Tag: M&A là gì

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Tiến hành tổng kiểm kê, đánh giá lại theo thị trường tài sản Nhà nước giao DNNN quản lý, sử dụng, bao gồm cả đất đai, tài nguyên, tài sản cố định và các tài sản khác. Thực hiện định giá lại toàn bộ tài sản và tính đúng, tính đủ chi phí của DNNN.

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Khá nhiều hoạt động M&A thời gian qua có liên quan đến việc mua lại cổ phần của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cổ phần hóz. Vì vậy, thúc đẩy cổ phần hóa DNNN, nhất là những doanh nghiệp đang nắm giữ những lợi thế và nguồn lực kinh doanh chưa tính đủ vào giá trị tài sản, có thể sẽ là cơ sở để phát triển hoạt động M&A.

Sáp nhập và mua lại DNNN là vấn đề phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố thể chế đặc thù, không còn đơn giản chỉ liên quan đến nhu cầu bản thân các doanh nghiệp tham gia.

TRIỂN VỌNG VÀ CƠ HỘI

Cổ phần hóa DNNN tạo những điều kiện ban đầu để đẩy mạnh M&A, ít nhất nhìn từ khía cạnh gia tăng nguồn cung trên thị trường mua bán quyền sở hữu doanh nghiệp và tăng số lượng DNNN tham gia hoạt động M&A với tư cách của bên bán.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã có một số định hướng lớn về cải cách DNNN, nhấn mạnh tới đẩy mạnh cổ phần hóa, xây dựng một số tập đoàn kinh tế đa sở hữu…

Quyết định 14/2011/QĐ-TTg ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN đã giảm thiểu đáng kể doanh nghiệp thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Nếu chỉ căn cứ các tiêu chí này, hàng loạt công ty TNHH một thành viên 100% sở hữu nhà nước hiện nay phải tiếp tục tiến hành đa dạng hóa sở hữu. Các nhà đầu tư hoàn toàn có thể kỳ vọng vào viễn cảnh cổ phần hóa gần một nửa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (sắt thép, xăng dầu, viễn thông, xây dựng, bất động sản, xi măng, dệt may, hóa chất cơ bản, đầu tư tài chính, kinh doanh lương thực…) và đại đa số các tổng công ty 90.

Trường hợp các chủ trương này được thực hiện, sẽ có một khối lượng lớn vốn và tài sản nhà nước được chào bán. Số liệu khảo sát của Cục Tài chính doanh nghiệp tháng 6/2010 tại 81/96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước cho thấy, vốn chủ sở hữu nhà nước đã lên tới 572.582 tỷ đồng, tổng giá trị tài sản sổ sách 1.518.999 tỷ đồng, chưa tính tới việc tăng giá trị khi định giá theo nguyên tắc thị trường.

Xét về sức hút thương mại thuần túy, việc đẩy mạnh cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong thời gian tới có thể tạo ra động lực và mối quan tâm không nhỏ của bên mua trên thị trường mua bán, sở hữu doanh nghiệp. Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hiện tại không được đánh giá cao về hiệu quả kinh doanh, nhưng rất ít nhà đầu tư có thể thờ ơ khi nhìn vào khối tài sản, nguồn lực quốc gia được phân bổ, địa lợi, đất đai và những lợi thế tiềm năng khác của khu vực doanh nghiệp quan trọng này.

Một thuận lợi khác là cho đến nay, toàn bộ DNNN đã căn bản chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ( khoảng 4.000 doanh nghiệp cổ phần hóa với gần 35% có cổ phần nhà nước chi phối ở thời điểm cổ phần hóa và 1.200 công ty TNHH một thành viên tập trung ở 96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nông – lâm trường quốc doanh, các DNNN công ích). Trong điều kiện như vậy, các hoạt động M&A DNNN thông qua mua bán cổ phần, vốn góp sẽ thuận lợi hơn nhiều so với hình thức mua toàn bộ “ công ty nhà nước” hoạt động theo Luật DNNN trước đây.

NHỮNG TRỞ NGẠI VÀ GIẢI PHÁP

Thực tế là, không ít tổng công ty nhà nước đã được cổ phần hóa, nhưng các giao dịch M&A lớn nhất ở Việt Nam cho đến nay lại không liên quan nhiều đến loại hình DNNN này.

Có chăng chỉ là các trường hợp M&A mà chính các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đóng vai trò bên mua, như Viettel mua cổ phần Vinaconex (qua SCIC), sáp nhập Hà Tiên 1 với Hà Tiên 2, PVD mua nốt 49% cổ phần của công ty con PDI, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mua 20% cổ phần Ngân hàng Ocean Bank. Về phía đối tác có yếu tố nước ngoài, giao dịch đáng chú ý nhất là Bộ Tài chính đã đồng ý để HSBC tăng sở hữu tại Tập đoàn Bảo Việt, Unilever mua lại toàn bộ sở hữu tại liên doanh Unilever Vietnam với Vinachem.

Rõ ràng, bản thân việc cổ phần hóa các tập đoàn, tồng công ty và DNNN lớn chưa thể là điều kiện đủ để thúc đẩy hoạt động M&A. Việc cổ phần hóa tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm tăng nguồn cung cho thị trường mua bán sở hữu doanh nghiệp, nhưng chưa chắc tạo ra thành nguồn bán của giao dịch M&A. Tiêu chí xác định các DNNN có sở hữu nhà nước chi phối theo quyết định 14/2011/QĐ-TTg còn quá rộng và nếu vận dụng các văn cảnh pháp luật của Quyết định này thì có thể bao trùm hầu hết các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện nay. Một khi Nhà nước còn nắm sở hữu chi phối thì các đối tác khác, nếu có, chỉ có thể trở thành các cổ đông chiến lược hoặc cổ đông nhỏ, vì vậy, chưa đủ điều kiện để cấu thành giao dịch M&A. Đó là chưa kể các trường hợp không thuộc diện Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối, nhưng trong thực tế vẫn có sở hữu chi phối Nhà nước vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Cho đên thời điểm hiện nay, hầu hết công ty mẹ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa có dấu hiệu hay kế hoạch nào để trở thành bân bán của giao dịch M&A. Đối với các doanh nghiệp thành viên quan trọng của tổng công ty/ tập đoàn kinh tế nhà nước, M&A đương nhiên dẫn tới phá vỡ cấu trúc ngành nghề và liên kết nội bộ. Hơn nữa, Quyết định 14/2011/QĐ-TTg cũng đã quy định, chưa tiến hành đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp thành viên quan trọng. Như vậy, đối tượng DNNN có thể tham gia M&A với tư cách là bên bán chủ yếu tập trung ở DNNN độc lập thuộc các bộ, địa phương, SCIC và các công ty con cấp II, III thuộc tập đoàn/ tổng công ty nhà nước.

Cuối cùng, không thể bỏ qua các yếu tố hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của DNNN khi bàn về M&A. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả thấp kém của DNNN, thậm chí có ý kiến cho rằng, nếu tính đúng, tính đủ các chi phí (ví dụ giá trị quyền sử dụng đất) thì hầu hết các DNNN sẽ thua lỗ (2). Quản trị doanh nghiệp là yếu tố mà bên mua của giao dịch M&A chắc chắn sẽ quan tâm, tuy nhiên, đây là nhược điểm cố hữu, chưa thể khắc phục của phần lớn DNNN hiện nay như thiếu minh bạch, cơ chế hoạt động chưa hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường…

Thực tế cho thấy, để cổ phần hóa DNNN thực sự trở thành động lực cho phát triển các hoạt động M&A ở Việt Nam, ngoài các giải giáp hoàn thiện khung khổ pháp luật cho hoạt động M&A nói chung (như bổ sung các quy định nhằm đa dạng hóa hoạt động M&A, các vấn đề về thuế, chế độ miến trừ, phương pháp tính mức độ tập trung kinh tế…), cần phải có những đột phá trong quá trình cải cách DNNN như:

– Chuyển đổi toàn bộ công ty mẹ các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước thành công ty cổ phần. Tiếp tục giảm mạnh đối tượng doanh nghiệp mà Nhà nước cần nắm giữ sở hữu chi phối. Nhà nước chỉ nên sở hữu 100% vốn điều lệ tại các DNNN trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng, công ích và các hoạt động thiết yếu cho phát triển kinh tế, xã hội của nghành và địa phương.

– Tiến hành tổng kiểm kê, đánh giá lại theo thị trường tài sản Nhà nước giao DNNN quản lý, sử dụng, bao gồm cả đất đai, tài nguyên, tài sản cố định và các tài sản khác. Thực hiện định giá lại toàn bộ tài sản và tính đúng, tính đủ chi phí của DNNN.

– Không phân biệt vị trí và vai trò của DNNN và doanh nghiệp khác trong ban hành và thực hiện các chính sách phát triển. Xóa bỏ chế độ, hình thức cho vay, cấp tín dụng theo chỉ đạo, chỉ định dưới mọi hình thức của cơ quan quản lý nhà nước. Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước không ban hành các quyết định “khoanh nợ, giãn nợ” cho doanh nghiệp, không nhận việc trả nợ, xử lý nợ thay cho doanh nghiệp. Nhà nước không trực tiếp sử dụng DNNN trở thành công cụ quản lý của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thực hiện sản phẩm, dịch vụ thuộc độc quyền nhà nước. Hình thái hai hệ thống pháp luật riêng rẽ về mua sắm chính phủ ( thuộc mua sắm công) và mua sắm của DNNN ( mua sắm tư).

– Cơ cấu lại và cải thiện quản trị DNNN. Tách biệt chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý hành chính nhà nước, tiến tới thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện quyền sở chủ sở hữu nhà nước. Ban hành quy định hướng dẫn trình tự, thủ tục ban hành quyết định của chủ sở hữu nhà nước đảm bảo cách thức tác động của chủ sở hữu Nhà nước vào DNNN tương đồng với cách thức tác động của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, không sử dụng các hình thức quyết định hành chính nhà nước để truyền tải quyết định của chủ sở hữu nhà nước. Ban hành văn bản pháp luật chế định cơ chế quản lý và giám sát thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp. Minh bạch hóa hoạt động đầu tư kinh doanh của chủ sở hữu nhà nước trong nên kinh tế. Áp dụng chuẩn mực minh bạch hóa thông tin của công ty niêm yết đối với DNNN. Tăng cường giám sát, đánh giá hoạt động của DNNN quy mô lớn, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước…

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Bộ luật Lao động quy định cụ thể. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp; người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã ký với người lao động.

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Hiện nay, một số ý kiến ho rằng, Việt Nam không có một văn bản nào quy định cụ thể về hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A), nên hoạt động M&A chưa được thừa nhận chính thức và chưa thực sự phát triển.

Tuy nhiên, không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có quy định riêng và toàn diện điều chỉnh các hoạt động M&A. Theo một nghiên cứu của Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada , Nhật Bản, Trung Quốc đều không ban hành một đạo luật riêng về hoạt động M&A, mà hoạt động M&A vẫn được điều chỉnh bởi nhiều quy định pháp luật đan xen như: Luật Cạnh tranh, Chống độc quyền, Luật Công ty (1).

Thị trường M&A ở Việt Nam đã tồn tại từ trước khi Luật Cạnh tranh – văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này được ban hành. Để thực hiện giao dịch M&A, nhà đầu tư phải tuân thủ nhiều quy định pháp luật điều chỉnh cụ thể từng khía cạnh của hoạt động này, như Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Bộ luật Lao động…

Quyền được M&A

Xét ở góc độ quyền của doanh nghiệp, các quy định pháp luật của Việt Nam đã công nhận quyền thực hiện giao dịch M&A của nhà đầu tư, như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng… Quyền này được thể hiện thông qua một số quyền như: quyền được chào bán cổ phần, hoặc giá trị phần góp vốn của người chủ sở hữu vốn, hoặc giá trị phần vốn được quyền chào bán của doanh nghiệp, quyền bán doanh nghiệp (bao gồm bán tài sản của doanh nghiệp, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp đang sở hữu, hoặc bán toàn bộ doanh nghiệp nhà nước), quyền mua lại doanh nghiệp của các tổ chức kinh tế Việt Nam.

Với sự công nhận đối với các quyền nêu trên, đã có nhiều hình thức M&A được thực hiện trên thực tế như:

· Mua lại toàn bộ doanh nghiệp;

· Mua lại và hợp nhất doanh nghiệp;

· Mua lại và sáp nhập;

· Mua, bán, hoán đổi cổ phiếu của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;

· Mua và thâu tóm hợp tác xã thông qua hình thức chuyển nhượng phần vốn góp của xã viên;

· Mua và thâu tóm doanh nghiệp tư nhân;

· Thâu tóm thông qua mua lại tài sản doanh nghiệp (không bao gồm bất đông sản);

· Thâu tóm doanh nghiệp thông qua mua lại tài sản doanh nghiệp (bao gồm bất động sản);

· Thâu tóm doanh nghiệp thông qua mua nợ;

· Thâu tóm doanh nghiệp đối với một số doanh nghiệp đặc thù như công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm (2).

Các thủ tục pháp lý liên quan đến hình thức M&A

Các hình thức M&A nêu trên đều dựa trên những thủ tục pháp lý tương ứng để có thể đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ thủ tục đăng ký hợp nhất và sáp nhập công ty 100% vốn Việt Nam, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (bao gồm các công ty cùng loại hình và khác loại hình hay doanh nghiệp tư nhân, mua doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, ở một số ngành nghề, pháp luật Việt Nam, hoặc cam kết quốc tế của Việt Nam chưa quy định rõ quyền được tham giá thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, nên một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn từ chối cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, hoặc mua cổ phần tại các doanh nghiệp Việt Nam. Khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam” cũng còn những cách hiểu khác nhau, tạo nên sự áp dụng pháp luật không thông nhất giữa các địa phương. Thực tế này đã và đang là một rào cản đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động M&A.

Bên cạnh đó, hoạt động M&A còn bị cản trở bởi cơ chế và thủ tục mở tài khoản vốn đầu tư. Ngân hàng Nhà nước đã có một số văn bản quy định về vấn đề này, nhưng hầu hết các văn bản này đều có sự xung đột và chưa rõ ràng, như quy định về “ tài khoản vốn đầu tư” bắt buộc áp dụng với các hình thức chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông, chủ đầu tư ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam và việc chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, yêu cầu phải mở “tài khoản vốn đầu tư” sẽ làm hạn chế phương thức mua lại bằng cách “trừ nợ” thông qua tái cấu trúc lại doanh nghiệp.

Đối với trường hợp hợp nhất, sáp nhập trong đó công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, thì công ty phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất, sáp nhập, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Cấm các trường hợp hợp nhất, sáp nhập, mà theo đó, công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan (3). Nhưng làm sao doanh nghiệp có thể xác định thị phần của mình trên thị trường liên quan để chủ động thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh nếu thuộc các trường hợp pháp luật quy định? Cơ chế xác định này hiện nay vẫn chưa được luật hóa để doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước thực hiện.

Luật Doanh nghiệp và Nghị định 43/2010/NĐ – CP về đăng ký doanh nghiệp cũng không quy định hồ sơ hợp nhất, sáp nhập công ty phải bao gồm thông báo của doanh nghiệp gửi tới cơ quan quản lý cạnh tranh. Do đó, cơ quan đăng ký doanh nghiệp không thể xác định được việc hợp nhất, sáp nhập của doanh nghiệp có vi phạm các quy định về quản lý cạnh tranh hay không. Ngoài ra, pháp luật cũng không có quy định về cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan đăng ký doanh nghiệp trong việc quản lý các hoạt động hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp. Như vậy,vấn đề này cần phải được khắc phục trong tương lai.

Cơ chế về kế toán và thuế

Các quy định hướng dẫn về chế độ kế toán và thuế đối với các trường hợp M&A hiện nay cũng tương đối cụ thể thông qua các luật về kế toán, quản lý thuế, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp (4). Nghiên cứu về “Pháp luật điều chỉnh sáp nhập và mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam” do các chuyên gia độc lập của Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư thực hiện đã xác định các doanh nghiệp không gặp khó khăn về mặt pháp lý liên quan đến các vấn đề kế toán và thuế khi tiến hành chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.

Chuyển đổi cổ phần, trái phiếu, chứng khoán và tài sản doanh nghiệp trong quá trình sáp nhập và hợp nhất

Việc mua lại doanh nghiệp bằng các tài sản khác không phải là tiền hiện nay cũng đã được các quy định pháp luật công nhận. Các tài sản khác đó có thể là ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, cổ phần, cổ phiếu, khoản nợ, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, các tài sản khác quy định tại điều lệ công ty (5).

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới đây đã ban hành một thông tư, quy định đồng tiền tham gia góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam là đồng Việt Nam (6). Đồng tiền thanh toán khi mua doanh nghiệp thuộc sở hữu 100% nhà nước cũng chỉ là tiền đồng Việt Nam (7). Nhà đầu tư Việt Nam thì được phép giao dịch bằng ngoại tệ trong các hoạt động đầu tư (8) và được sử dụng ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoài (9). Vấn đề này đã tạo nên sự không thống nhất trong việc quy định hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua lại doanh nghiệp Việt Nam và gây khó khăn cho nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài.

Lao động

Bộ luật Lao động quy định cụ thể. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp; người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã ký với người lao động. Trường hợp không sử dụng hết dẫn đến việc người lao động phải chấm dứt hợp đồng, thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động (10).

Tuy nhiên, Bộ luật Lao động lại yêu cầu người sử dụng lao động kế tiếp phải có phương án sử dụng lao động trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có. Người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp ít nhất một năm phải chấm dứt hợp đồng lao động với lý do mua lại, sáp nhập sẽ được nhận trợ cấp mất việc làm tương đương với một tháng lương cho mỗi năm làm việc, nhưng ít nhất là hai tháng lương. Đây là một vấn đề mà doanh nghiệp thâu tóm phải tính toán cẩn trọng để giải quyết đúng pháp luật và phù hợp với chi phí đầu tư của doanh nghiệp.

Một bất cập khác là khi phương án sử dụng lao động mà doanh nghiệp bị thâu tóm đưa ra, nhưng công đoàn cơ sở, hoặc cơ quan lao động cấp tỉnh phản đối, thì doanh nghiệp có thể thỏa thuận lại với công đoàn, nhưng chưa rõ phải thỏa thuận ra sao với cơ quan lao động cấp tỉnh. Trường hợp tập thể người lao động lại phản đối kế hoạch sử dụng lao động hoặ không thống nhất quan điểm với công đoàn về phương án sử dụng lao động, thì cũng sẽ ảnh hưởng tới quá trình sáp nhập, hợp nhất của doanh nghiệp.

Cạnh tranh và tập trung kinh tế

Như đã nêu ở trên, việc mua, bán và thâu tóm doanh nghiệp là một trong các hình thức của tập trung kinh tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh (11). Có một số trường hợp mua lại doanh nghiệp không bị coi là tạp trung kinh tế, như “trương hợp doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm bán lại trong thời hạn dài nhất là một năm” (12).

Pháp luật cạnh tranh cũng đưa ra trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, đó là khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trùng kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (13), trừ trường hợp: “một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể, hoặc lâm vào tình trạng phá sản”; hoặc “có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bi=ộ kỹ thuật, công nghệ” (14), hoặc “sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật” (15).

Kết luận

Nhìn chung, pháp luật Việt Nam hiện nay đã ghi nhận quyền được hợp nhất, sáo nhập, mua lại doanh nghiệp và hợp tác xã của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Hoạt động M&A sẽ mang lại những nguồn đầu tư không nhỏ cho Việt Nam và nâng cao khả năng du nhập công nghệ về quản trị doanh nghiệp và sản xuất cho đất nước. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và cơ cấu lại các hoạt động kinh doanh, hoạt động M&A có thể mở rộng thêm cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam và tạo thé liên hoàn vững chắc cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu.