Tag: M&A

Các giai đoạn chính của quy trình M&A

Các giai đoạn chính của quy trình M&A

Quy trình M&A như là một quy trinh học hỏi: quy trình này gồm 4 bước chính – phân loại và lựa chọn đối tác, trước khi hoàn thành thương vụ M&A, đàm phán và sau khi hoàn thành thương vụ M&A. Các vấn đề và các giải pháp nảy sinh trong mỗi bước cũng được bàn thảo.

Các giai đoạn chính của quy trình M&A

Các giai đoạn chính của quy trình M&A

Ngược lại với xu thế tăng trưởng của hoạt động M&A, nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức, đã chỉ ra rằng, phần lớn (tới 60%) các thương vụ M&A không đem lại giá trị cho đông và có thể nói là thất bại. Một trong các nguyên nhân chính là các vấn đề nảy sinh trong các giai đoạn/pha của quy trình M&A mà công ty phải đối mặt. Cơ sở khoa học cũng chỉ ra sự thiếu sót về số lượng các nghiên cứu tập trung phân tích và giải quyết các vấn đề trong mỗi pha/giai đoạn của quy trình M&A (ví dụ có rất ít nghiên cứu tập trung vào giai đoạn hợp nhất).

Về mặt lý luận khoa học, quy trình để thực hiện một thương vụ thâu tóm sáp nhập (gọi tắt là quy trình M&A) đã được đề cập như sau:

· Quy trình M&A gồm 4 giai đoạn chính: lập kế hoạch chiến lược, điều tra và lựa chọn, đàm phán và hợp nhất.

· Quy trình M&A gồm 3 giai đoạn chính: viễn cảnh chiến lược về lập kế hoạch M&A, phân tích các đối tác tiềm năng và các chiến lược hợp nhất. Mỗi giai đoạn này gồm một số nhiệm vụ chi tiết cụ thể.

· Quy trình M&A như là một quy trinh học hỏi: quy trình này gồm 4 bước chính – phân loại và lựa chọn đối tác, trước khi hoàn thành thương vụ M&A, đàm phán và sau khi hoàn thành thương vụ M&A. Các vấn đề và các giải pháp nảy sinh trong mỗi bước cũng được bàn thảo.

· Quy trình M&A gồm 5 giai đoạn: mục tiêu tài chính và chiến lược, giai đoạn thương vụ, giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn hợp nhất và đánh giá.

· Quy trình M&A được chia thành 3 giai đoạn chính: lập kế hoạch, thực hiện và hợp nhất. Mỗi giai đoạn bao gồm các nhiệm vụ cụ thể.

· Quy trình M&A được cấu trúc thành 3 giai đoạn: kế hoạch, hành động và thực hiện.

Như vậy có thể thấy rằng, các quy trình này thường rất vắn tắt và được chia ra thành một vài giai đoạn chính với những thuật ngữ hoàn toàn khác nhau và thường rất khó khan để doanh nghiệp áp dụng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Việt Nam – khi khái niệm M&A vẫn còn chưa được hiểu một cách toàn diện – thì cần có một hướng dẫn cụ thể chi tiết. Điều này cũng đem lại những khó khăn cho việc nghiên cứu sâu hơn về hoạt động M&A.

TỪ GÓC ĐỘ THỰC TIỄN (TƯ VẤN)

Về mặt thực tiễn, một số công ty tư vấn cũng đưa ra các quy trình M&A riêng của họ như sau:

· Quy trình M&A được đưa ra bởi hãng tư vấn Arthur Young gồm 8 bước: (1) phân công trách nhiệm tại cấp độ quản lý hoạch định chính sách, (2) xây dựng kế hoạch M&A, (3) xây dựng các tiêu chí cho M&A, (4) xác định đối tác tiềm năng để thực hiện M&A, (5) giao tiếp với các đối tác tiềm năng cho M&A, (6) nghiên cứu đối tác M&A, (7) đàm phán và (8) hợp nhất.

· Quy trình M&A phát triển bởi hãng tư vấn A.T Kearney gồm các giai đoạn: phát triển chiến lược, chọn lựa ứng cử viên, đàm phán, hoàn tất thương vụ hợp nhất.

· Công ty chứng khoán cũng đưa ra một quy trình 3-bước thực hiện M&A – xác định các doanh nghiệp mục tiêu cho giao dịch M&A, xác định giá trị giao dịch và đàm phán giao kết và thực hiện thỏa thuận hợp đồng giao dịch M&A. Tuy nhiên, quy trình này được tổng hợp lại từ nguồn tham khảo nước ngoài, nên không có giá trị mới và khá là cơ bản.

Khi so sánh với cơ sở lý luận khoa học, có thể thấy rằng, các quy trình đưa ra từ thực tiễn (tư vấn) cũng rất chung chung và khái quát gồm một vài bước cơ bản. Để đánh giá tính có thể áp dụng được và tính phù hợp cùa các quy trình này,việc so sánh với một quy trình M&A diễn ra trong thực tế sẽ giúp làm rõ điều này.

QUY TRÌNH THÂU TÓM HAY SÁP NHẬP CỦA ABB

ABB là công ty chuyên về công nghệ tự động hóa và năng lượng với trụ sở chính đặt tại Zurich (Thụy Sỹ). Hoạt động kinh doanh của Công ty bao gồm 5 lĩnh vực: các sản phẩm năng lượng, tự động hóa và các chuyển động riêng rẽ, các sản phẩm biến thế thấp, tự động hóa về quy trình. Lich sử của ABB xuyên suốt hơn 120 năm bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX với một bề dày thành tích về đổi mới và dẫn dắt về công nghệ trong nhiều ngành và lĩnh vực. Tại Việt Nam, ABB đã thành lập chi nhánh vào năm 1993. Trụ sở chính tại Hà Nội, ABB Việt Nam có các văn phòng tại TP.HCM, Đà Nẵng, Vũng Tàu và Bắc Ninh.

Xuyên suốt lịch sử phát triển, ABB đã mua lại và hợp nhất với nhiều công ty trên toàn thế giới. Tiền thân của ABB là việc hợp nhất 2 công ty ASEA và BBC vào năm 1988 để tạo ra ABB với doanh thu vào thời điểm đó đạt 17 tỷ USD và tuyển dụng khoảng 160.000 lao động trên toàn cầu. Hàng năm, ABB liên tục thực hiện các thương vụ thâu tóm để phát triển theo chiều sâu và dần mở rộng lĩnh vực kinh doanh như việc thâu tóm Công ty Ventyx (cung cấp giải pháp về phần mềm cho việc quản trị các mạng lưới về năng lượng) vào năm 2010, Công ty Ensto Busch-Jaeger Oy (Phần Lan) vào năm 2009, Công ty Kuhlman Electric Corporation vào năm 2008, Công ty Vectek Electronics (New Zealand) vào năm 2008…

Do hoạt động M&A là một trong các hoạt động thường xuyên của Công ty, nên ABB đã xây dựng một quy trình thâu tóm hay sáp nhập được tổng hợp từ các thương vụ ABB đã thực hiện. Bảng 1 miêu tả các giai đoạn trong quy trình M&A của ABB trong đó ABB chia quy trình M&A của mình thành 9 giai đoạn và mỗi giai đoạn có các nội dung công việc tương ứng rất cụ thể và chi tiết.

Như vậy, có thế thấy rằng, khi so sánh với các bước trên thực tế diễn ra trong các thương vụ M&A của ABB, các quy trình đã được đề cập từ góc độ lý luận (khoa học) và thực tiễn (các công ty tư vấn) đều chung chung và thiếu cụ thể. Do vậy, các quy trình đó không mang tính hữu ích và ứng dụng cao để các công ty có thể áp dụng khi tham gia hoạt động M&A.

Thêm vào đó, như đã đề cập, hoạt động M&A tại Việt Nam hiện nay mới chỉ đa phần tập trung vào hình thức mua hay nhượng lại một phần cổ phần của các đối tác, chứ chưa thực sự là hình thức hợp nhất hay mua toàn bộ 100% sở hữu giữa các bên giống như hoạt động M&A quốc tế.

Trong những trường hợp như vậy, quy trình M&A đơn giản hơn nhiều so với thực tế (ví dụ trong trường hợp khi một thương vụ M&A được thực hiện thông qua việc đấu thầu và do một bên trung gian như ngân hàng đầu tư thực hiện, thì quy trình sẽ phức tạp hơn nhiều). Do vậy, quy trình M&A chi tiết trong các thương vụ như vậy cũng là mới mẻ và chưa được thực sự phát triển bởi các doanh nghiệp tại Việt Nam, dẫn tới việc doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp phải nhiều rủi ro khi không thể lường trước được nếu thực sự tham gia M&A thay đổi quyền kiểm soát và sở hữu giữa 2 hay nhiều bên chưa có quan hệ đối tác trước giống như của quốc tế.

THAY LỜI KẾT

Trên thực tế quy trình M&A thường chi tiết gồm nhiều giai đoạn (pha) với những nhiệm vụ và lộ trình cụ thể. Tuân theo một quy trình M&A đầy đủ và chi tiết sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước (và quốc tế) thực hiện các thương vụ M&A một cách bài bản hơn, nhận biết đầy đủ được các thách thức trong từng giai đoạn, từ đó, tăng tỷ lệ thành công các thương vụ M&A.

Một quy trình M&A đầy đủ này cũng sẽ giúp tăng số lượng nghiên cứu sâu hơn vào từng pha của quy trình để thúc đẩy các hoạt động M&A. Trường hợp phân tích về ABB nói trên là một tình huống tham khảo hữu ích từ góc độ tiếp cận về quy trình M&A cho cả doanh nghiệp và khoa học. Việc mở rộng nghiên cứu thêm các quy trình/các bước thực hiện chi tiết trong những thương vụ M&A được thực hiện bởi các công ty trên thế giới là cần thiết, để từ đó tổng hợp nên quy trình M&A toàn diện và đầy đủ hơn.

Quy trình thẩm định giá và tư vấn M&A cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy trình thẩm định giá và tư vấn M&A cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong trường hợp doanh nghiệp có ngành nghề và quy mô phù hợp, cũng như có khả năng được mua lại, VNVC | Tư vấn M&A sẽ tiến hành trao đổi với chủ sỡ hữu doanh nghiệp về kế hoạch cũng như các bước cụ thể để thực hiện M&A.

Quy trình thẩm định giá và tư vấn M&A cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy trình thẩm định giá và tư vấn M&A cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hiện nay do nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới, rất nhiều các doanh nghiệp và cá nhân muốn thông qua hình thức M&A để thực hiện: mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực mà mình có lợi thế hoặc gia nhập vào phát triển tại thị trường Việt Nam. Nắm bắt được xu hướng đó, Công ty CP Thẩm định giá và Tư vấn thực hiện tư vấn, môi giới cho các doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài về các vấn đề mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.

Quy trình thực hiện như sau:
– Các đơn vị doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ có nhu cầu thực hiện bán một phần hoặc toàn bộ hoặc cổ phần chi phối thương hiệu / doanh nghiệp liên hệ với VNVC | Tư vấn M&A để được tư vấn bước đầu và gửi hồ sơ cho VNVC | Tư vấn M&A nghiên cứu trước.
– VNVC | Tư vấn M&A hẹn lịch khảo sát doanh nghiệp
– Trong trường hợp doanh nghiệp có ngành nghề và quy mô phù hợp, cũng như có khả năng được mua lại, VNVC | Tư vấn M&A sẽ tiến hành trao đổi với chủ sỡ hữu doanh nghiệp về kế hoạch cũng như các bước cụ thể để thực hiện M&A.
– Hai bên thương thảo hợp đồng tư vấn và môi giới M&A.
– Thực hiện kết nối giữa bên mua và bên bán.
– Giải quyết các vấn đề khúc mắc để quá trình M&A suôn sẻ.
– Hỗ trợ hoặc tư vấn các bên thực hiện thủ tục pháp lý phù hợp.
– Chủ doanh nghiệp tiếp tục thực hiện tạm ứng phí khi hoạt động tư vấn / môi giới đã thực hiện bước này.
– Hoàn tất tư vấn / môi giới M&A
– Thanh lý và thanh quyết toán hợp đồng tư vấn / môi giới M&A.

M&A trong lĩnh vực khoáng sản

M&A trong lĩnh vực khoáng sản

Theo thống kê, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn 1,47% trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động. Các doanh nghiệp này tham gia chủ yếu trong lĩnh vực khai thác khoáng sản phục vụ công nghiệp sản xuất xi măng, đá ốp láy, nước khoáng (lavie), vàng, niken, titan sa khoáng, đá phiến lớp, quặng sắt.

M&A trong lĩnh vực khoáng sản

M&A trong lĩnh vực khoáng sản

Với tiềm năng khoáng sản, cùng với sự tháo gỡ về cơ chế và sự phát triển của các doanh nghiệp, sẽ có nhều thương vụ M&A trong ngành khoáng sản trong giai đoạn tới.

M&A TRONG NGÀNH KHOÁNG SẢN – NHÌN TỪ MỘT THƯƠNG VỤ

Năm 2010, giới chuyên môn và quan sát torng lĩnh vực đầu tư khóang sản đã rất chú ý và ấn tượng với việc Masan công bố thỏa huận mua lại cổ phần kiểm soát torng công ty Liên doanh khai thác Ché biến Khoáng sản Núi Pháo (“Nuiphaovica”) từ Công ty Tiberon Minerals. Theo thông tin từ chủ đầu tư, Nuiphaovica kiểm soát một trong những dự án vonfram chưa được khai thác lớn nhất thế giới, một mỏ đa kim với trữ lượng được kiểm chứng và ước đoán vào khoảng 55,4 triệu tấn ở tỉnh Thái Nguyên. Khi đi vào hoạt động hoàn chỉnh, mỏ này cũng sẽ là một trong những mỏ sản xuất lớn nhất thế giới về bismuth và flourit cấp axit.

Tiếp đến, đầu năm 2011, Masan tiếp tục công bố khoản đầu tư thành công vào Công ty Tài nguyên Masan từ các quỹ đầu tư do Công ty quản lý quỹ Mount Kellett tư vấn – Mount Kellett là tập đoàn của Mỹ đang quản lý nguồn vốn tư nhân có giá trị nhiều tỷ đola Mỹ. Mount Kellett sẽ đầu tư khoảng 2100 tỷ đồng để đổi lấy 20% cổ phần của Cty Tài nguyên Masan.

Giới quan sát nhận thấy, đây là những tín hiệu đầu tiên thể hiện sự quyết tâm của Msan trong việc triển khai thương vụ Nuiphaovica. Thương vụ này cũng cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn quan tâm đấn các cơ hội đầu tư trong lĩnh vực khai khoáng tại Việt Nam. Mặt khác, cũng cho thấy, M&A có thể là một trong những giải pháp để thực thi hiệu quả các dự án trong lĩnh vực này.

CƠ HỘI NÀO CHO M&A KHOÁNG SẢN TẠI VIỆT NAM

Có ba nguyên nhân chính có thể tác động đến M&A trong lĩnh vực khoáng sản tại Việt Nam. Đó là, Việt Nam vẫn được đánh giá có nhiều tiềm năng về khoáng sản; sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư, nhất là khối tư nhân; việc ban hành Luật khoáng sản và những quy định cụ thể về chuyên nhượng dự án thăm dò và khai thác mỏ.

Tiềm năng khoáng sản và sự phát triển ngành khai khoáng tại Việt Nam

Việt Nam luôn được biết đến với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú với trên 5.000 mỏ và điểm quặng của hơn 60 loại khóang sản khác nhau. Trong đó có một số loại khoáng sản được dự báo có trữ lượng lớn như boxit, titan, đá nguyên liệu xi măng… Việt Nam cũng có những mỏ quặng tiềm năng như sắt, vàng, vonfram, đất hiếm… Theo thống kê, giá trị công nghiệp ngành khai thác khoáng sản (trừ dầu khí) đã tăng từ 4,8% (năm 1995) lên đến 10% GDP hàng năm của Việt Nam trong những năm gần đây.

Mặc dù phong phú về chủng loại và nhiều về số lượng nhưng phần lớn các mỏ, điểm mỏ khoáng sản đã phát hiện ở Việt Nam chủ yếu là các mỏ nhỏ và vừa. Mặt khác, do hạn chế về vốn đầu tư, công nghệ khai thác nên các mỏ đang khai thác chủ yếu có quy mô nhỏ, hoặc một số mỏ lớn được chia thành nhiều khu vực để khai thác với quy mô nhỏ.

Hoạt động chế biến khoáng sản phần lớn được thực hiện đồng thời với khai thác khoáng sản, tuy nhiên các doanh nghiệp Việt nam chưa chú trọng và chưa đủ năng lực để triển khai hoạt động này.

Sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài

Trước khi Luật khoáng sản được ban hành, hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu do các tổng công ty, công ty nhà nước thực hiên tại các mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò bằn nguồn vôn nhà nước như apatit, quặng sắt, than, đá vôi, sét làm nguyên liệu xi măng, thiếc, antimon, vofram… với số lượng khỏang gần 200 mỏ, khu vực khai thác trong cả nước được khai thác, thăm dò.

Sau khi Luật khoáng sản được ban hành, chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia, hoạt động khai thác… Theo thống kê số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động trong công nghiệp khai thác mỏ tăng nhanh từ 427 doanh ghiệp (năm 2000) lên gần 1.400 doanh nghiệp vào thời điểm hiện tại. Trong đó, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng chiếm tới gần 1.200 doanh nghiệp với quy mô nhỏ và vừa.

Trong nước đã hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, một số doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong ngành khai thác khoáng sản như: tập doàn Khai thác Than – Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt Nam, Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam. Một số doanh nghiệp trong nước đã ổn định và phát triển trong lĩnh vực khai khoáng như: Tổng công ty Khoáng sản Hà Tĩnh, Công ty Khoáng sản Bình Định, Hòa Phát…

Theo thống kê, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn 1,47% trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động. Các doanh nghiệp này tham gia chủ yếu trong lĩnh vực khai thác khoáng sản phục vụ công nghiệp sản xuất xi măng, đá ốp láy, nước khoáng (lavie), vàng, niken, titan sa khoáng, đá phiến lớp, quặng sắt. Tuy tỷ lệ tham gia không cao, nhưng do có kinh nghiệm trong khâu tìm kiếm, đánh giá và triển khai dự án, các nhà đầu tư này lựa chọn những cơ hội đầu tư tương đối tốt và hứa hẹn tiềm năng.

Luật Khoáng sản và cơ hội cho hoạt động M&A trong lĩnh vực khoáng sản tại Việt Nam

Trong thời gian qua, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản tại Việt Nam đã điễn ra, tuy nhiên các thông tin về thương vụ này cũng ít khi được công bố. Nhiều thương vụ cũng mang tính chất mua đi bán lại giấy phép. Tuy nhiên trên thực tế có tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản do điều kiện khác quan, không thể tiếp tục thực hiện dự án đầu tư, có nhu cầu chuyển nhượng dự án đã đầu tư để thu hồi vốn.

Luật Khoáng sản với hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2011 đã có điều khoản cho phép chuyển nhượng quyền thăm dò và quyền khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng quyền thăm dò và khai thác khoáng sản phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản chấp thuận.

Với tiềm năng khoáng sản của Việt Nam, cùng với sự tháo gỡ về cơ chế cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp ngành khoáng sản, chúng ta có thể chứng kiến nhiều thương vụ M&A trong ngành này trong những năm tới. Nhà nước nên nhìn nhận xu hướng này theo hướng tích cực, sự điều tiết của thị trường sẽ chọn lựa được nhà đầu tư phù hợp nhất cho dự án. Về khía cạnh doanh nghiệp, nên nhìn nhận đây là cơ hội để có những thương vụ đầu tư thành công trong lĩnh vực khoáng sản.

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Tiến hành tổng kiểm kê, đánh giá lại theo thị trường tài sản Nhà nước giao DNNN quản lý, sử dụng, bao gồm cả đất đai, tài nguyên, tài sản cố định và các tài sản khác. Thực hiện định giá lại toàn bộ tài sản và tính đúng, tính đủ chi phí của DNNN.

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Khá nhiều hoạt động M&A thời gian qua có liên quan đến việc mua lại cổ phần của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cổ phần hóz. Vì vậy, thúc đẩy cổ phần hóa DNNN, nhất là những doanh nghiệp đang nắm giữ những lợi thế và nguồn lực kinh doanh chưa tính đủ vào giá trị tài sản, có thể sẽ là cơ sở để phát triển hoạt động M&A.

Sáp nhập và mua lại DNNN là vấn đề phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố thể chế đặc thù, không còn đơn giản chỉ liên quan đến nhu cầu bản thân các doanh nghiệp tham gia.

TRIỂN VỌNG VÀ CƠ HỘI

Cổ phần hóa DNNN tạo những điều kiện ban đầu để đẩy mạnh M&A, ít nhất nhìn từ khía cạnh gia tăng nguồn cung trên thị trường mua bán quyền sở hữu doanh nghiệp và tăng số lượng DNNN tham gia hoạt động M&A với tư cách của bên bán.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã có một số định hướng lớn về cải cách DNNN, nhấn mạnh tới đẩy mạnh cổ phần hóa, xây dựng một số tập đoàn kinh tế đa sở hữu…

Quyết định 14/2011/QĐ-TTg ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN đã giảm thiểu đáng kể doanh nghiệp thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Nếu chỉ căn cứ các tiêu chí này, hàng loạt công ty TNHH một thành viên 100% sở hữu nhà nước hiện nay phải tiếp tục tiến hành đa dạng hóa sở hữu. Các nhà đầu tư hoàn toàn có thể kỳ vọng vào viễn cảnh cổ phần hóa gần một nửa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (sắt thép, xăng dầu, viễn thông, xây dựng, bất động sản, xi măng, dệt may, hóa chất cơ bản, đầu tư tài chính, kinh doanh lương thực…) và đại đa số các tổng công ty 90.

Trường hợp các chủ trương này được thực hiện, sẽ có một khối lượng lớn vốn và tài sản nhà nước được chào bán. Số liệu khảo sát của Cục Tài chính doanh nghiệp tháng 6/2010 tại 81/96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước cho thấy, vốn chủ sở hữu nhà nước đã lên tới 572.582 tỷ đồng, tổng giá trị tài sản sổ sách 1.518.999 tỷ đồng, chưa tính tới việc tăng giá trị khi định giá theo nguyên tắc thị trường.

Xét về sức hút thương mại thuần túy, việc đẩy mạnh cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong thời gian tới có thể tạo ra động lực và mối quan tâm không nhỏ của bên mua trên thị trường mua bán, sở hữu doanh nghiệp. Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hiện tại không được đánh giá cao về hiệu quả kinh doanh, nhưng rất ít nhà đầu tư có thể thờ ơ khi nhìn vào khối tài sản, nguồn lực quốc gia được phân bổ, địa lợi, đất đai và những lợi thế tiềm năng khác của khu vực doanh nghiệp quan trọng này.

Một thuận lợi khác là cho đến nay, toàn bộ DNNN đã căn bản chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ( khoảng 4.000 doanh nghiệp cổ phần hóa với gần 35% có cổ phần nhà nước chi phối ở thời điểm cổ phần hóa và 1.200 công ty TNHH một thành viên tập trung ở 96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nông – lâm trường quốc doanh, các DNNN công ích). Trong điều kiện như vậy, các hoạt động M&A DNNN thông qua mua bán cổ phần, vốn góp sẽ thuận lợi hơn nhiều so với hình thức mua toàn bộ “ công ty nhà nước” hoạt động theo Luật DNNN trước đây.

NHỮNG TRỞ NGẠI VÀ GIẢI PHÁP

Thực tế là, không ít tổng công ty nhà nước đã được cổ phần hóa, nhưng các giao dịch M&A lớn nhất ở Việt Nam cho đến nay lại không liên quan nhiều đến loại hình DNNN này.

Có chăng chỉ là các trường hợp M&A mà chính các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đóng vai trò bên mua, như Viettel mua cổ phần Vinaconex (qua SCIC), sáp nhập Hà Tiên 1 với Hà Tiên 2, PVD mua nốt 49% cổ phần của công ty con PDI, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mua 20% cổ phần Ngân hàng Ocean Bank. Về phía đối tác có yếu tố nước ngoài, giao dịch đáng chú ý nhất là Bộ Tài chính đã đồng ý để HSBC tăng sở hữu tại Tập đoàn Bảo Việt, Unilever mua lại toàn bộ sở hữu tại liên doanh Unilever Vietnam với Vinachem.

Rõ ràng, bản thân việc cổ phần hóa các tập đoàn, tồng công ty và DNNN lớn chưa thể là điều kiện đủ để thúc đẩy hoạt động M&A. Việc cổ phần hóa tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm tăng nguồn cung cho thị trường mua bán sở hữu doanh nghiệp, nhưng chưa chắc tạo ra thành nguồn bán của giao dịch M&A. Tiêu chí xác định các DNNN có sở hữu nhà nước chi phối theo quyết định 14/2011/QĐ-TTg còn quá rộng và nếu vận dụng các văn cảnh pháp luật của Quyết định này thì có thể bao trùm hầu hết các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện nay. Một khi Nhà nước còn nắm sở hữu chi phối thì các đối tác khác, nếu có, chỉ có thể trở thành các cổ đông chiến lược hoặc cổ đông nhỏ, vì vậy, chưa đủ điều kiện để cấu thành giao dịch M&A. Đó là chưa kể các trường hợp không thuộc diện Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối, nhưng trong thực tế vẫn có sở hữu chi phối Nhà nước vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Cho đên thời điểm hiện nay, hầu hết công ty mẹ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa có dấu hiệu hay kế hoạch nào để trở thành bân bán của giao dịch M&A. Đối với các doanh nghiệp thành viên quan trọng của tổng công ty/ tập đoàn kinh tế nhà nước, M&A đương nhiên dẫn tới phá vỡ cấu trúc ngành nghề và liên kết nội bộ. Hơn nữa, Quyết định 14/2011/QĐ-TTg cũng đã quy định, chưa tiến hành đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp thành viên quan trọng. Như vậy, đối tượng DNNN có thể tham gia M&A với tư cách là bên bán chủ yếu tập trung ở DNNN độc lập thuộc các bộ, địa phương, SCIC và các công ty con cấp II, III thuộc tập đoàn/ tổng công ty nhà nước.

Cuối cùng, không thể bỏ qua các yếu tố hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của DNNN khi bàn về M&A. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả thấp kém của DNNN, thậm chí có ý kiến cho rằng, nếu tính đúng, tính đủ các chi phí (ví dụ giá trị quyền sử dụng đất) thì hầu hết các DNNN sẽ thua lỗ (2). Quản trị doanh nghiệp là yếu tố mà bên mua của giao dịch M&A chắc chắn sẽ quan tâm, tuy nhiên, đây là nhược điểm cố hữu, chưa thể khắc phục của phần lớn DNNN hiện nay như thiếu minh bạch, cơ chế hoạt động chưa hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường…

Thực tế cho thấy, để cổ phần hóa DNNN thực sự trở thành động lực cho phát triển các hoạt động M&A ở Việt Nam, ngoài các giải giáp hoàn thiện khung khổ pháp luật cho hoạt động M&A nói chung (như bổ sung các quy định nhằm đa dạng hóa hoạt động M&A, các vấn đề về thuế, chế độ miến trừ, phương pháp tính mức độ tập trung kinh tế…), cần phải có những đột phá trong quá trình cải cách DNNN như:

– Chuyển đổi toàn bộ công ty mẹ các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước thành công ty cổ phần. Tiếp tục giảm mạnh đối tượng doanh nghiệp mà Nhà nước cần nắm giữ sở hữu chi phối. Nhà nước chỉ nên sở hữu 100% vốn điều lệ tại các DNNN trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng, công ích và các hoạt động thiết yếu cho phát triển kinh tế, xã hội của nghành và địa phương.

– Tiến hành tổng kiểm kê, đánh giá lại theo thị trường tài sản Nhà nước giao DNNN quản lý, sử dụng, bao gồm cả đất đai, tài nguyên, tài sản cố định và các tài sản khác. Thực hiện định giá lại toàn bộ tài sản và tính đúng, tính đủ chi phí của DNNN.

– Không phân biệt vị trí và vai trò của DNNN và doanh nghiệp khác trong ban hành và thực hiện các chính sách phát triển. Xóa bỏ chế độ, hình thức cho vay, cấp tín dụng theo chỉ đạo, chỉ định dưới mọi hình thức của cơ quan quản lý nhà nước. Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước không ban hành các quyết định “khoanh nợ, giãn nợ” cho doanh nghiệp, không nhận việc trả nợ, xử lý nợ thay cho doanh nghiệp. Nhà nước không trực tiếp sử dụng DNNN trở thành công cụ quản lý của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thực hiện sản phẩm, dịch vụ thuộc độc quyền nhà nước. Hình thái hai hệ thống pháp luật riêng rẽ về mua sắm chính phủ ( thuộc mua sắm công) và mua sắm của DNNN ( mua sắm tư).

– Cơ cấu lại và cải thiện quản trị DNNN. Tách biệt chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý hành chính nhà nước, tiến tới thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện quyền sở chủ sở hữu nhà nước. Ban hành quy định hướng dẫn trình tự, thủ tục ban hành quyết định của chủ sở hữu nhà nước đảm bảo cách thức tác động của chủ sở hữu Nhà nước vào DNNN tương đồng với cách thức tác động của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, không sử dụng các hình thức quyết định hành chính nhà nước để truyền tải quyết định của chủ sở hữu nhà nước. Ban hành văn bản pháp luật chế định cơ chế quản lý và giám sát thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp. Minh bạch hóa hoạt động đầu tư kinh doanh của chủ sở hữu nhà nước trong nên kinh tế. Áp dụng chuẩn mực minh bạch hóa thông tin của công ty niêm yết đối với DNNN. Tăng cường giám sát, đánh giá hoạt động của DNNN quy mô lớn, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước…

Tìm hiểu về M&A trên thị trường chứng khoán

Tìm hiểu về M&A trên thị trường chứng khoán

Nhìn chung M&A là một quá trình phức tạp, kéo dài thậm chí hàng năm và các bên tham gia phải tự nhận thức được mức độ phức tạp của quá trình đó. Tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn M&A phải có một đội ngũ chuyên gia có kiến thức, có kinh nghiệm chuyên sâu về các lĩnh vực khác nhau như luật pháp, tài chính DN, chứng khoán, định giá…

Tìm hiểu về M&A trên thị trường chứng khoán

Tìm hiểu về M&A trên thị trường chứng khoán

Ông NGUYỄN THÀNH LONG, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý quỹ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư về các vấn đề liên quan đến hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) nói chung và M&A trên thị trường chứng khoán nói riêng. Cũng theo ông Long, M&A có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp, tạo ra giá trị lớn hơn so với giá trị mang lại cho doanh nghiệp, cho cổ đông nếu hoạt động độc lập, nhưng nhìn chung, M&A là một quá trình phức tạp, kéo dài và các bên tham gia phải nhận thức được mức độ phức tạp của quá trình đó. PHẠM OANH thực hiện.

Theo thống kê của Công ty AVM, năm 2010 có khoảng 345 thương vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đã diễn ra tại Việt Nam. Để giúp công chúng đầu tư hiểu hơn về M&A, xin ông đưa ra một khái niệm dễ hiểu, dễ hình dung về hoạt động này?

Cụm từ M&A (Merge & Accquisition) bao hàm nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, có thể là hoạt động tái tổ chức DN, và/hoặc hoạt động độc tập trung kinh tế. Tạm thời có thể chia thành 4 hoạt động: (i) hợp nhất; (ii) sáp nhập (Merge); (iii) mua lại DN thông qua việc mua cổ phiếu (Stock sales) để chi phối DN; (iv) mua lại tài sản – asset sales (Accquisition). Luật doanh nghiệp, luật cạnh tranh đã có định nghĩa về các hoạt động này.

Về cơ bản, hoạt động hợp nhất, sáp nhập là quá trình thống nhất tổ chức giữa các DN bị hợp nhất, bị sáp nhập (tổ chức lại DN). Kết quả của việc hợp nhất và sáp nhập đều dẫn tới chỉ còn tồn tại một DN, đó có thể là DN hoàn toàn mới được lập ra (trong trường hợp hợp nhất) hoặc tiếp tục duy trì một DN đã có từ trước (trong trường hợp sáp nhập) và DN hình thành này sẽ tiếp nhận toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ của các DN bị hợp nhất, bị sáp nhập. Trong khi đó, kết quả hoạt động mua bán lại DN là sự thiết lập quan hệ sở hữu giữa DN mua lại và DN bị mua lại.

Trực tiếp điều tiết hoạt động M&A tại Việt Nam là những văn bản pháp lý nào, thưa ông?

Liên quan tới M&A, có nhiều các quy định đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, vẫn cần phải hoàn thiện nhiều để các hoạt động M&A có thể thực hiện an toàn, bảo vệ được quyền lợi của các bên liên quan. Đối với các hoạt động M&A, hiện Việt Nam có (i) Luật cạnh tranh 2004, Điều 16 đến 24; (ii) Bộ Luật dân sự 2005, Điều 94, 95; (iii) Luật Doanh Nghiệp 2005, Điều 152, 153; (iv) Luật đầu tư 2005, Điều 21, 25, 26; (v) Luật Chứng khoán 2006, Điều 29, 32, 69; (vi) Luật chứng khoán sửa đổi. Mỗi luật hướng tới những mục tiêu điều chỉnh khác nhau, trong đó Luật Doanh Nghiệp là cơ sở pháp lý chính cho hoạt động M&A. Các luật khác chỉ đề cập hoặc điều chỉnh một số nội dung nhất định của tiến trình M&A, mà nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp.

M&A là hoạt động khá phức tạp, kết quả của một thương vụ M&A có tác động tới nhiều bên liên quan và vì vậy, cần thiết phải có những quy định chi tiết hóa quá trình M&A. Các mục tiêu căn bản mà một thương vụ M&A cần đạt được là bảo vệ được quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là thiểu số; bảo vệ quyền lợi của chủ nợ; bảo vệ quyền lợi của người lao động và bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

Để đạt được các mục tiêu này, nhiều chi tiết kỹ thuật, hoặc tối thiểu là nguyên tắc thực hiện nên được thể chế hóa bằng quy định pháp luật. Nhìn chung, quy định về M&A tại Việt Nam hiện nay đã bắt đầu hình thành với những nội dung căn bản nhất.

Tuy nhiên, những quy định này cần phải tiếp tục hoàn thiện, đồng thời kết hợp với việc hệ thống hóa các quy định còn nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp lý vào văn bản có mức độ pháp lý cao hơn. Đồng thời, cũng phải có những quy định hướng dẫn mang tính kỹ thuật ở những văn bản có mức độ pháp lý thấp hơn, chẳng hạn như những quy định về quản trị công ty hướng dẫn công ty có những quy định tại điều lệ cho phép Hội đồng quản trị áp dụng các biện pháp nhằm chống thâu tóm thù nghịch, hay thậm chí là quy định mang tính nguyên tắc về việc xác định mức giá chào mua công khai nhằm đảm bảo quyền lợi của cổ đông cũng như ngăn chặn các hiện tượng lạm dụng thị trường. Mục đích là để tạo ra hành lang pháp lý nhằm hướng dẫn một cách xuyên suốt và có trình tự, trật tự toàn bộ quá trình M&A và không ảnh hưởng tiêu cực tới các hoạt động thị trường nói chung.

Trong lĩnh vực chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ làm gì để tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý liện quan đến hoạt động M&A, thưa ông?

Hiện nay, nhiều nội dung liên quan đến hoạt động M&A trong phạm vi điều chỉnh của Luật Chứng khoán đang được dự thảo. Cụ thể, Dự thảo Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Chứng khoán, đang được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước lấy ý kiến, cũng đã có những quy định về điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký phát hành cổ phiếu để hoán đổi áp dụng cho hoạt động hợp nhất, sáp nhập của các công ty đại chúng. Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định cũng có các nội dung liên quan tới hoạt động chào mua công khai (thực chất là nâng cấp từ Thông tư 194/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn việc chào mua công khai cổ phiếu của công ty đại chúng, chứng chỉ quỹ đóng ban hành ngày 2/10/2009).

Ngoài ra, để tạo hành lang pháp lý cho việc tái cấu trúc hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng đã dự thảo các quy định tại Thông tư thay thế Quy chế hướng dẫn tổ chức, hoạt động công ty quản lý quỹ, Quy chế hướng dẫn tổ chức, hoạt động công ty chứng khoán, ban hành kèm theo các Quyết định 35/2007/QĐ-BTC, Quyết định 27/2007/QĐ-BTC, trong đó hướng dẫn một cách chi tiết toàn bộ trình tự, thủ tục việc hợp nhất, sáp nhập các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

Ngoài những nội dung căn bản của hoạt động hợp nhất sáp nhập, thì các quy định này còn bao hàm những nội dung đặc trưng khác, chẳng hạn như các nguyên tắc áp dụng khi bàn giao quyền, trách nhiệm giữa các bên liên quan, việc duy trì hệ thống, nhân sự, ứng xử với khách hàng nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong suốt quá trình thực hiện.

Khảo sát của Báo Đầu tư Chứng khoán và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cuối năm 2010 cho thấy, có tới 20% DN có tâm trạng lo lắng về áp lực bị thâu tóm sau khi niêm yết. Vậy theo ông, DN phải làm gì để tự bảo vệ mình trước khả năng bị thâu tóm?

Hoạt động M&A có thể là thân thiện, dựa trên sự đồng thuận của tất cả các bên, nhưng cũng có thể là không thân thiện, tạm gọi là hoạt động thâu tóm (hostile takeover). Hoạt động M&A coi là thân thiện, hoặc không thân thiện, khi ta xét từ quan điểm của công ty mục tiêu (cổ đông, hội đồng quản trị, người lao động).

Trong hoạt động M&A thân thiện, các công ty tham gia chủ động tham gia quá trình thương thảo có tính xây dựng. Điều này thể hiện rõ nhất tại các thương vụ hợp nhất, sáp nhập hoặc M&A theo hình thức bán tài sản, khi quyền quyết định hợp nhất, sáp nhập, bán tài sản với giá trị lớn được thực hiện tại Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Điều lệ Công ty và theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với các hoạt động như chào mua công khai, thì có thể xảy ra tình trạng thâu tóm không thân thiện, khi mà công ty mục tiêu không muốn bị thâu tóm hoặc khi hoạt động thâu tóm đang được thực hiện một cách lặng lẽ mà hội đồng quản trị của công ty mục tiêu hoàn toàn không biết về kế hoạch đó.

Để hạn chế các hoạt động bị thâu tóm, người ta có thể sử dụng một số quy định quản trị công ty để phòng ngừa theo nguyên tắc làm tăng tối đa chi phí cho hoạt động thâu tóm, làm giảm mức độ kiểm soát của bên đi thâu tóm sau khi M&A. Đó có thể là các giải pháp chiến lược (được áp dụng liên tục trong quy chế quản trị công ty) hoặc giải pháp chiến thuật (được áp dụng trong trường hợp phát sinh tình thế). Về nguyên tắc, khả năng DN tự bảo vệ mình trước nguy cơ bị thâu tóm là có thể thực hiện được, nhưng điều này không dễ dàng khi việc áp dụng chúng trong thực tiễn đòi hỏi sự am hiều sâu sắc về quản trị công ty của đội ngũ nhân sự cao cấp của công ty.

 

Ông đánh giá như thế nào về chất lượng dịch vụ M&A tại Việt Nam hiện nay?

Theo quy định của pháp luật, tư vấn M&A không phải là nghiệp vụ kinh doanh có điều kiện của riêng các công ty chứng khoán, mặc dù theo thông lệ, các tổ chức tư vấn địch vụ này thường là các ngân hàng đầu tư (công ty chứng khoán). Tuy nhiên, trong mỗi thương vụ M&A, có có sự tham gia của các tổ chức khác như kiểm toán, công ty luật… Hiện nay có khá nhiều công ty chứng khoán, tư vấn tài chính, kiểm toán tham gia vào làm trung gian, môi giới cho các bên trong hoạt động M&A. Tuy nhiên, do có những hạn chế về nhân sự, tính chuyên nghiệp, cơ sở dữ liệu, thông tin…, nên các đơn vị này chưa thể thành cầu nối cho bên mua-bán gặp nhau một cách hiệu quả.

Nhìn chung M&A là một quá trình phức tạp, kéo dài thậm chí hàng năm và các bên tham gia phải tự nhận thức được mức độ phức tạp của quá trình đó. Tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn M&A phải có một đội ngũ chuyên gia có kiến thức, có kinh nghiệm chuyên sâu về các lĩnh vực khác nhau như luật pháp, tài chính DN, chứng khoán, định giá…

DN Việt Nam khi muốn thực hiện M&A cần lưu ý những vấn đề gì, thưa ông?

Các DN Việt Nam cần nhận thức rằng, M&A có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp, tạo ra giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị mang lại cho doanh nghiệp, cho cổ đông nếu hoạt động một cách độc lập. Sức mạnh tổng hợp là động cơ quan trọng, mang lại nhiều lợi ích cho DN sau khi M&A: đạt được hiệu quả dựa vào quy mô, giảm nhân viên và các chi phí, thực hiện đa dạng hóa và loại trừ rủi ro phi hệ thống, tăng cường khả năng thanh khoản, thị phần.. rút ngắn thời gian thâm nhập một thị trường mới, giảm thiểu đáng kể những rào cản gia nhập thị trường.

Về kỹ thuật thực hiện, các bên tham gia cần lưu ý tìm hiểu kỹ các quy định pháp luật về M&A; quy định về tập trung kinh tế chống hạn chế cạnh tranh, các vấn đề liên quan đến thuế, nghĩa vụ đối với nhà nước. Cần đánh giá đúng đắn tình hình, từ nhận dạng mục tiêu, chiến lược phát triển, tiêu chí lựa chọn đối tác, vấn đề xác định giá trị DN (tỷ lệ hoán đổi, giá chào mua). Bên cạnh đó, vấn đề bảo mật thông tin cũng là một yếu tố quan trọng quyết định tới sự thành bại của một thương vụ M&A.

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Bộ luật Lao động quy định cụ thể. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp; người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã ký với người lao động.

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Hiện nay, một số ý kiến ho rằng, Việt Nam không có một văn bản nào quy định cụ thể về hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A), nên hoạt động M&A chưa được thừa nhận chính thức và chưa thực sự phát triển.

Tuy nhiên, không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có quy định riêng và toàn diện điều chỉnh các hoạt động M&A. Theo một nghiên cứu của Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada , Nhật Bản, Trung Quốc đều không ban hành một đạo luật riêng về hoạt động M&A, mà hoạt động M&A vẫn được điều chỉnh bởi nhiều quy định pháp luật đan xen như: Luật Cạnh tranh, Chống độc quyền, Luật Công ty (1).

Thị trường M&A ở Việt Nam đã tồn tại từ trước khi Luật Cạnh tranh – văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này được ban hành. Để thực hiện giao dịch M&A, nhà đầu tư phải tuân thủ nhiều quy định pháp luật điều chỉnh cụ thể từng khía cạnh của hoạt động này, như Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Bộ luật Lao động…

Quyền được M&A

Xét ở góc độ quyền của doanh nghiệp, các quy định pháp luật của Việt Nam đã công nhận quyền thực hiện giao dịch M&A của nhà đầu tư, như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng… Quyền này được thể hiện thông qua một số quyền như: quyền được chào bán cổ phần, hoặc giá trị phần góp vốn của người chủ sở hữu vốn, hoặc giá trị phần vốn được quyền chào bán của doanh nghiệp, quyền bán doanh nghiệp (bao gồm bán tài sản của doanh nghiệp, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp đang sở hữu, hoặc bán toàn bộ doanh nghiệp nhà nước), quyền mua lại doanh nghiệp của các tổ chức kinh tế Việt Nam.

Với sự công nhận đối với các quyền nêu trên, đã có nhiều hình thức M&A được thực hiện trên thực tế như:

· Mua lại toàn bộ doanh nghiệp;

· Mua lại và hợp nhất doanh nghiệp;

· Mua lại và sáp nhập;

· Mua, bán, hoán đổi cổ phiếu của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;

· Mua và thâu tóm hợp tác xã thông qua hình thức chuyển nhượng phần vốn góp của xã viên;

· Mua và thâu tóm doanh nghiệp tư nhân;

· Thâu tóm thông qua mua lại tài sản doanh nghiệp (không bao gồm bất đông sản);

· Thâu tóm doanh nghiệp thông qua mua lại tài sản doanh nghiệp (bao gồm bất động sản);

· Thâu tóm doanh nghiệp thông qua mua nợ;

· Thâu tóm doanh nghiệp đối với một số doanh nghiệp đặc thù như công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm (2).

Các thủ tục pháp lý liên quan đến hình thức M&A

Các hình thức M&A nêu trên đều dựa trên những thủ tục pháp lý tương ứng để có thể đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ thủ tục đăng ký hợp nhất và sáp nhập công ty 100% vốn Việt Nam, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (bao gồm các công ty cùng loại hình và khác loại hình hay doanh nghiệp tư nhân, mua doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, ở một số ngành nghề, pháp luật Việt Nam, hoặc cam kết quốc tế của Việt Nam chưa quy định rõ quyền được tham giá thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, nên một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn từ chối cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, hoặc mua cổ phần tại các doanh nghiệp Việt Nam. Khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam” cũng còn những cách hiểu khác nhau, tạo nên sự áp dụng pháp luật không thông nhất giữa các địa phương. Thực tế này đã và đang là một rào cản đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động M&A.

Bên cạnh đó, hoạt động M&A còn bị cản trở bởi cơ chế và thủ tục mở tài khoản vốn đầu tư. Ngân hàng Nhà nước đã có một số văn bản quy định về vấn đề này, nhưng hầu hết các văn bản này đều có sự xung đột và chưa rõ ràng, như quy định về “ tài khoản vốn đầu tư” bắt buộc áp dụng với các hình thức chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông, chủ đầu tư ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam và việc chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, yêu cầu phải mở “tài khoản vốn đầu tư” sẽ làm hạn chế phương thức mua lại bằng cách “trừ nợ” thông qua tái cấu trúc lại doanh nghiệp.

Đối với trường hợp hợp nhất, sáp nhập trong đó công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, thì công ty phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất, sáp nhập, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Cấm các trường hợp hợp nhất, sáp nhập, mà theo đó, công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan (3). Nhưng làm sao doanh nghiệp có thể xác định thị phần của mình trên thị trường liên quan để chủ động thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh nếu thuộc các trường hợp pháp luật quy định? Cơ chế xác định này hiện nay vẫn chưa được luật hóa để doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước thực hiện.

Luật Doanh nghiệp và Nghị định 43/2010/NĐ – CP về đăng ký doanh nghiệp cũng không quy định hồ sơ hợp nhất, sáp nhập công ty phải bao gồm thông báo của doanh nghiệp gửi tới cơ quan quản lý cạnh tranh. Do đó, cơ quan đăng ký doanh nghiệp không thể xác định được việc hợp nhất, sáp nhập của doanh nghiệp có vi phạm các quy định về quản lý cạnh tranh hay không. Ngoài ra, pháp luật cũng không có quy định về cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan đăng ký doanh nghiệp trong việc quản lý các hoạt động hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp. Như vậy,vấn đề này cần phải được khắc phục trong tương lai.

Cơ chế về kế toán và thuế

Các quy định hướng dẫn về chế độ kế toán và thuế đối với các trường hợp M&A hiện nay cũng tương đối cụ thể thông qua các luật về kế toán, quản lý thuế, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp (4). Nghiên cứu về “Pháp luật điều chỉnh sáp nhập và mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam” do các chuyên gia độc lập của Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư thực hiện đã xác định các doanh nghiệp không gặp khó khăn về mặt pháp lý liên quan đến các vấn đề kế toán và thuế khi tiến hành chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.

Chuyển đổi cổ phần, trái phiếu, chứng khoán và tài sản doanh nghiệp trong quá trình sáp nhập và hợp nhất

Việc mua lại doanh nghiệp bằng các tài sản khác không phải là tiền hiện nay cũng đã được các quy định pháp luật công nhận. Các tài sản khác đó có thể là ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, cổ phần, cổ phiếu, khoản nợ, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, các tài sản khác quy định tại điều lệ công ty (5).

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới đây đã ban hành một thông tư, quy định đồng tiền tham gia góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam là đồng Việt Nam (6). Đồng tiền thanh toán khi mua doanh nghiệp thuộc sở hữu 100% nhà nước cũng chỉ là tiền đồng Việt Nam (7). Nhà đầu tư Việt Nam thì được phép giao dịch bằng ngoại tệ trong các hoạt động đầu tư (8) và được sử dụng ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoài (9). Vấn đề này đã tạo nên sự không thống nhất trong việc quy định hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua lại doanh nghiệp Việt Nam và gây khó khăn cho nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài.

Lao động

Bộ luật Lao động quy định cụ thể. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp; người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã ký với người lao động. Trường hợp không sử dụng hết dẫn đến việc người lao động phải chấm dứt hợp đồng, thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động (10).

Tuy nhiên, Bộ luật Lao động lại yêu cầu người sử dụng lao động kế tiếp phải có phương án sử dụng lao động trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có. Người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp ít nhất một năm phải chấm dứt hợp đồng lao động với lý do mua lại, sáp nhập sẽ được nhận trợ cấp mất việc làm tương đương với một tháng lương cho mỗi năm làm việc, nhưng ít nhất là hai tháng lương. Đây là một vấn đề mà doanh nghiệp thâu tóm phải tính toán cẩn trọng để giải quyết đúng pháp luật và phù hợp với chi phí đầu tư của doanh nghiệp.

Một bất cập khác là khi phương án sử dụng lao động mà doanh nghiệp bị thâu tóm đưa ra, nhưng công đoàn cơ sở, hoặc cơ quan lao động cấp tỉnh phản đối, thì doanh nghiệp có thể thỏa thuận lại với công đoàn, nhưng chưa rõ phải thỏa thuận ra sao với cơ quan lao động cấp tỉnh. Trường hợp tập thể người lao động lại phản đối kế hoạch sử dụng lao động hoặ không thống nhất quan điểm với công đoàn về phương án sử dụng lao động, thì cũng sẽ ảnh hưởng tới quá trình sáp nhập, hợp nhất của doanh nghiệp.

Cạnh tranh và tập trung kinh tế

Như đã nêu ở trên, việc mua, bán và thâu tóm doanh nghiệp là một trong các hình thức của tập trung kinh tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh (11). Có một số trường hợp mua lại doanh nghiệp không bị coi là tạp trung kinh tế, như “trương hợp doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm bán lại trong thời hạn dài nhất là một năm” (12).

Pháp luật cạnh tranh cũng đưa ra trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, đó là khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trùng kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (13), trừ trường hợp: “một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể, hoặc lâm vào tình trạng phá sản”; hoặc “có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bi=ộ kỹ thuật, công nghệ” (14), hoặc “sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật” (15).

Kết luận

Nhìn chung, pháp luật Việt Nam hiện nay đã ghi nhận quyền được hợp nhất, sáo nhập, mua lại doanh nghiệp và hợp tác xã của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Hoạt động M&A sẽ mang lại những nguồn đầu tư không nhỏ cho Việt Nam và nâng cao khả năng du nhập công nghệ về quản trị doanh nghiệp và sản xuất cho đất nước. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và cơ cấu lại các hoạt động kinh doanh, hoạt động M&A có thể mở rộng thêm cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam và tạo thé liên hoàn vững chắc cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu.