Tag: thủ tục mua bán doanh nghiệp

Tìm hiểu thủ tục mua bán doanh nghiệp

Tìm hiểu thủ tục mua bán doanh nghiệp

Trên đây là thủ tục mua bán doanh nghiệp có liên quan đến nhiều cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình mua bán doanh nghiệp có rất nhiều vấn đề phát sinh. Liên hệ với Công ty luật chúng tôi để đảm bảo thương vụ diễn ra thuận lợi, đúng pháp luật, lại vừa đảm bảo quyền lợi của các bên, phòng tránh rủi ro pháp lý.

Tìm hiểu thủ tục mua bán doanh nghiệp

Tìm hiểu thủ tục mua bán doanh nghiệp

Nhiều người cho rằng doanh nghiệp nào cũng có thể mua bán được. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ công ty tư nhân mới có quyền bán toàn bộ doanh nghiệp. Đối với công ty cổ phần thì hình thức mua bán chủ yếu để giành quyền kiểm soát doanh nghiệp được thực hiện theo phương thức chuyển nhượng cổ phần. Còn đối với việc mua bán công ty TNHH thì được chuyển nhượng góp vốn trong công ty.

I. SO SÁNH MUA BÁN DOANH NGHIỆP VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP

Thuật ngữ quốc tế Mergers and Acquisitions (M&A ) được dùng để chỉ chung sự Sáp nhập và Mua bán doanh nghiệp. Tuy nhiên hai thuật Mua bán và Sáp nhập vẫn có sự khác biệt về bản chất.

Khi một công ty mua lại hoặc thôn tính một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là Mua bán. Về pháp lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, còn công ty tiến hành mua lại sẽ ‘tiếp quản” toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty kia.

Sáp nhập là sự kết hợp của 2 hay nhiều doanh nghiệp, thông thường giống nhau về quy mô để tạo thành 1 doanh nghiệp mới.

Về pháp lý: M&A có liên quan đến 4 lĩnh vực pháp luật khác nhau: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, luật Chứng khoán và pháp luật Dân sự.

II. THỦ TỤC MUA BÁN DOANH NGHIỆP, THỦ TỤC MUA BÁN CÔNG TY

Việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thực hiện theo 3 bước chính sau:

Xem xét đánh giá doanh nghiệp mục tiêu
Giai đoạn này rất quan trọng đối với người mua. Nó quyết định sự thành công của thương vụ M&A. Các công việc cần xem xét, đánh giá doanh nghiệp được mua lại bao gồm: Các báo cáo tài chính, các khoản phải thu và phải chi, đội ngũ nhân viên, khách hàng, địa điểm kinh doanh, tình trạng cơ sở vật chất, các đối thủ cạnh tranh, đăng ký kinh doanh, các giấy phép và việc phân chia khu vực kinh doanh, hình ảnh công ty…

Định giá và đàm phán giá
– Sau khi tìm hiểu và quyết định mua lại doanh nghiệp, bước tiếp theo sẽ là định giá doanh nghiệp mục tiêu

– Lựa chọn phương thức thực hiện thương vụ mua bán doanh nghiệp

– Xác định nguồn tài chính cho thương vụ M&A

– đàm phán giá

– Tiến hành thương lượng cụ thể từng điều khoản họp đồng mua bán doanh nghiệp

Lưu ý:

– Ở giai đoạn này, người mua thường tìm cách hiểu động cơ nào khiến người bán muốn bán doanh nghiệp của mình. Việc được như vậy, người mua sẽ có cách đàm phán phù hợp, vừa nắm được các cơ hội và phát hiện những điểm yếu cần loại bỏ.

– Động lực của bên mua trong hầu hết các trường hợp M&A tăng lợi nhuận, mở rộng hoạt động của doanh nghiệp, tăng doanh thu.

Hoàn tất hoạt động mua bán doanh nghiệp (hoạt động M&A)
– Hoàn tất chuyển sở hữu doanh nghiệp

– Giải quyết các vấn đề tồn đọng sau khi mua doanh nghiệp

III. THỦ TỤC MUA BÁN DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Theo các quy định pháp luật Việt Nam, chỉ có doanh nghiệp tư nhân mới được phép bán toàn bộ. Bởi doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chỉ do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Do đó theo quy định của Luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán toàn bộ doanh nghiệp của mình cho người khác.

Dưới đây là thủ tục mua bán doanh nghiệp tư nhân.

Hồ sơ bán doanh nghiệp tư nhân

– Thông báo thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân có chữ ký của người bán và người mua.

– Bản sao hợp lệ một trong những giấy tờ chứng thực cán nhân của người mua.

– Hợp đồng mua bán doanh nghiệp và các giấy tờ chứng minh hoàn tất việc chuyển nhượng doanh nghiệp tư nhân.

– Bản sao hợp lệ giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ chứng thực cá nhân khác của chủ doanh nghiệp tư nhân.

– Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.

– Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của một hoặc một số cá nhân theo quy định đối với doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.

Tiến trình mua bán doanh nghiệp tư nhân

– Thực hiện mua bán doanh nghiệp với người mua:

+ Soạn thảo Hợp đồng mua bán doanh nghiệp

+ Xác lập người mua doanh nghiệp phải là người có quyền thành lập, góp vốn thành lập, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và không thuộc trường hợp không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định tại luật này

+ Các tài liệu chứng minh việc mua bán doanh nghiệp tư nhân đã hoàn thành (giấy biên nhận tiền mua bán doanh nghiệp, Biên bản thanh lý hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân và thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp cho người mua).

– Đăng ký sang tên doanh nghiệp cho người mua

+ Trong vòng 15 ngày kể từ ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người mua, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh

+ Nội dung thông báo thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân: Tên, trụ sở của doanh nghiệp; tên, địa chỉ của người mua; tổng số nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp; tên, địa chỉ, số nợ và thời hạn thanh toán cho từng chủ nợ; hợp đồng lao động và các hợp đồng khác đã ký mà chưa thực hiện xong và cách thức giải quyết các hợp đồng đó.

IV. THỦ TỤC MUA BÁN CÔNG TY CỔ PHẦN

Việc mua bán công ty cổ phần được thực hiện bằng cách chuyển nhượng cổ phần

– Các bên liên quan ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cổ phần.

– Tiến hành lập biên bản xác nhận về việc đã hoàn thành thủ tục chuyển nhượng cổ phần.

– Tổ chức cuộc họp Đại Hội đồng cổ đông để thông qua việc chuyển nhượng cổ phần.

– Tiến hành chỉnh sửa, bổ sung thông tin trong Sổ đăng ký cổ đông của công ty.

– Tiến hành đăng ký thay đổi cổ đông theo quy định.

V. THỦ TỤC MUA BÁN CÔNG TY TNHH

Tương tự như công ty cổ phần, việc mua bán doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn được tiến hành thông qua việc chuyển nhượng góp vốn trong công ty này.

– Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;

– Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán.

– Thay đổi thành viên do chuyển nhượng phần vốn góp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định thay đổi Công ty gửi thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký kinh doanh.

Các giai đoạn chính của quy trình M&A

Các giai đoạn chính của quy trình M&A

Quy trình M&A như là một quy trinh học hỏi: quy trình này gồm 4 bước chính – phân loại và lựa chọn đối tác, trước khi hoàn thành thương vụ M&A, đàm phán và sau khi hoàn thành thương vụ M&A. Các vấn đề và các giải pháp nảy sinh trong mỗi bước cũng được bàn thảo.

Các giai đoạn chính của quy trình M&A

Các giai đoạn chính của quy trình M&A

Ngược lại với xu thế tăng trưởng của hoạt động M&A, nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức, đã chỉ ra rằng, phần lớn (tới 60%) các thương vụ M&A không đem lại giá trị cho đông và có thể nói là thất bại. Một trong các nguyên nhân chính là các vấn đề nảy sinh trong các giai đoạn/pha của quy trình M&A mà công ty phải đối mặt. Cơ sở khoa học cũng chỉ ra sự thiếu sót về số lượng các nghiên cứu tập trung phân tích và giải quyết các vấn đề trong mỗi pha/giai đoạn của quy trình M&A (ví dụ có rất ít nghiên cứu tập trung vào giai đoạn hợp nhất).

Về mặt lý luận khoa học, quy trình để thực hiện một thương vụ thâu tóm sáp nhập (gọi tắt là quy trình M&A) đã được đề cập như sau:

· Quy trình M&A gồm 4 giai đoạn chính: lập kế hoạch chiến lược, điều tra và lựa chọn, đàm phán và hợp nhất.

· Quy trình M&A gồm 3 giai đoạn chính: viễn cảnh chiến lược về lập kế hoạch M&A, phân tích các đối tác tiềm năng và các chiến lược hợp nhất. Mỗi giai đoạn này gồm một số nhiệm vụ chi tiết cụ thể.

· Quy trình M&A như là một quy trinh học hỏi: quy trình này gồm 4 bước chính – phân loại và lựa chọn đối tác, trước khi hoàn thành thương vụ M&A, đàm phán và sau khi hoàn thành thương vụ M&A. Các vấn đề và các giải pháp nảy sinh trong mỗi bước cũng được bàn thảo.

· Quy trình M&A gồm 5 giai đoạn: mục tiêu tài chính và chiến lược, giai đoạn thương vụ, giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn hợp nhất và đánh giá.

· Quy trình M&A được chia thành 3 giai đoạn chính: lập kế hoạch, thực hiện và hợp nhất. Mỗi giai đoạn bao gồm các nhiệm vụ cụ thể.

· Quy trình M&A được cấu trúc thành 3 giai đoạn: kế hoạch, hành động và thực hiện.

Như vậy có thể thấy rằng, các quy trình này thường rất vắn tắt và được chia ra thành một vài giai đoạn chính với những thuật ngữ hoàn toàn khác nhau và thường rất khó khan để doanh nghiệp áp dụng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Việt Nam – khi khái niệm M&A vẫn còn chưa được hiểu một cách toàn diện – thì cần có một hướng dẫn cụ thể chi tiết. Điều này cũng đem lại những khó khăn cho việc nghiên cứu sâu hơn về hoạt động M&A.

TỪ GÓC ĐỘ THỰC TIỄN (TƯ VẤN)

Về mặt thực tiễn, một số công ty tư vấn cũng đưa ra các quy trình M&A riêng của họ như sau:

· Quy trình M&A được đưa ra bởi hãng tư vấn Arthur Young gồm 8 bước: (1) phân công trách nhiệm tại cấp độ quản lý hoạch định chính sách, (2) xây dựng kế hoạch M&A, (3) xây dựng các tiêu chí cho M&A, (4) xác định đối tác tiềm năng để thực hiện M&A, (5) giao tiếp với các đối tác tiềm năng cho M&A, (6) nghiên cứu đối tác M&A, (7) đàm phán và (8) hợp nhất.

· Quy trình M&A phát triển bởi hãng tư vấn A.T Kearney gồm các giai đoạn: phát triển chiến lược, chọn lựa ứng cử viên, đàm phán, hoàn tất thương vụ hợp nhất.

· Công ty chứng khoán cũng đưa ra một quy trình 3-bước thực hiện M&A – xác định các doanh nghiệp mục tiêu cho giao dịch M&A, xác định giá trị giao dịch và đàm phán giao kết và thực hiện thỏa thuận hợp đồng giao dịch M&A. Tuy nhiên, quy trình này được tổng hợp lại từ nguồn tham khảo nước ngoài, nên không có giá trị mới và khá là cơ bản.

Khi so sánh với cơ sở lý luận khoa học, có thể thấy rằng, các quy trình đưa ra từ thực tiễn (tư vấn) cũng rất chung chung và khái quát gồm một vài bước cơ bản. Để đánh giá tính có thể áp dụng được và tính phù hợp cùa các quy trình này,việc so sánh với một quy trình M&A diễn ra trong thực tế sẽ giúp làm rõ điều này.

QUY TRÌNH THÂU TÓM HAY SÁP NHẬP CỦA ABB

ABB là công ty chuyên về công nghệ tự động hóa và năng lượng với trụ sở chính đặt tại Zurich (Thụy Sỹ). Hoạt động kinh doanh của Công ty bao gồm 5 lĩnh vực: các sản phẩm năng lượng, tự động hóa và các chuyển động riêng rẽ, các sản phẩm biến thế thấp, tự động hóa về quy trình. Lich sử của ABB xuyên suốt hơn 120 năm bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX với một bề dày thành tích về đổi mới và dẫn dắt về công nghệ trong nhiều ngành và lĩnh vực. Tại Việt Nam, ABB đã thành lập chi nhánh vào năm 1993. Trụ sở chính tại Hà Nội, ABB Việt Nam có các văn phòng tại TP.HCM, Đà Nẵng, Vũng Tàu và Bắc Ninh.

Xuyên suốt lịch sử phát triển, ABB đã mua lại và hợp nhất với nhiều công ty trên toàn thế giới. Tiền thân của ABB là việc hợp nhất 2 công ty ASEA và BBC vào năm 1988 để tạo ra ABB với doanh thu vào thời điểm đó đạt 17 tỷ USD và tuyển dụng khoảng 160.000 lao động trên toàn cầu. Hàng năm, ABB liên tục thực hiện các thương vụ thâu tóm để phát triển theo chiều sâu và dần mở rộng lĩnh vực kinh doanh như việc thâu tóm Công ty Ventyx (cung cấp giải pháp về phần mềm cho việc quản trị các mạng lưới về năng lượng) vào năm 2010, Công ty Ensto Busch-Jaeger Oy (Phần Lan) vào năm 2009, Công ty Kuhlman Electric Corporation vào năm 2008, Công ty Vectek Electronics (New Zealand) vào năm 2008…

Do hoạt động M&A là một trong các hoạt động thường xuyên của Công ty, nên ABB đã xây dựng một quy trình thâu tóm hay sáp nhập được tổng hợp từ các thương vụ ABB đã thực hiện. Bảng 1 miêu tả các giai đoạn trong quy trình M&A của ABB trong đó ABB chia quy trình M&A của mình thành 9 giai đoạn và mỗi giai đoạn có các nội dung công việc tương ứng rất cụ thể và chi tiết.

Như vậy, có thế thấy rằng, khi so sánh với các bước trên thực tế diễn ra trong các thương vụ M&A của ABB, các quy trình đã được đề cập từ góc độ lý luận (khoa học) và thực tiễn (các công ty tư vấn) đều chung chung và thiếu cụ thể. Do vậy, các quy trình đó không mang tính hữu ích và ứng dụng cao để các công ty có thể áp dụng khi tham gia hoạt động M&A.

Thêm vào đó, như đã đề cập, hoạt động M&A tại Việt Nam hiện nay mới chỉ đa phần tập trung vào hình thức mua hay nhượng lại một phần cổ phần của các đối tác, chứ chưa thực sự là hình thức hợp nhất hay mua toàn bộ 100% sở hữu giữa các bên giống như hoạt động M&A quốc tế.

Trong những trường hợp như vậy, quy trình M&A đơn giản hơn nhiều so với thực tế (ví dụ trong trường hợp khi một thương vụ M&A được thực hiện thông qua việc đấu thầu và do một bên trung gian như ngân hàng đầu tư thực hiện, thì quy trình sẽ phức tạp hơn nhiều). Do vậy, quy trình M&A chi tiết trong các thương vụ như vậy cũng là mới mẻ và chưa được thực sự phát triển bởi các doanh nghiệp tại Việt Nam, dẫn tới việc doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp phải nhiều rủi ro khi không thể lường trước được nếu thực sự tham gia M&A thay đổi quyền kiểm soát và sở hữu giữa 2 hay nhiều bên chưa có quan hệ đối tác trước giống như của quốc tế.

THAY LỜI KẾT

Trên thực tế quy trình M&A thường chi tiết gồm nhiều giai đoạn (pha) với những nhiệm vụ và lộ trình cụ thể. Tuân theo một quy trình M&A đầy đủ và chi tiết sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước (và quốc tế) thực hiện các thương vụ M&A một cách bài bản hơn, nhận biết đầy đủ được các thách thức trong từng giai đoạn, từ đó, tăng tỷ lệ thành công các thương vụ M&A.

Một quy trình M&A đầy đủ này cũng sẽ giúp tăng số lượng nghiên cứu sâu hơn vào từng pha của quy trình để thúc đẩy các hoạt động M&A. Trường hợp phân tích về ABB nói trên là một tình huống tham khảo hữu ích từ góc độ tiếp cận về quy trình M&A cho cả doanh nghiệp và khoa học. Việc mở rộng nghiên cứu thêm các quy trình/các bước thực hiện chi tiết trong những thương vụ M&A được thực hiện bởi các công ty trên thế giới là cần thiết, để từ đó tổng hợp nên quy trình M&A toàn diện và đầy đủ hơn.

Quy trình thẩm định giá và tư vấn M&A cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy trình thẩm định giá và tư vấn M&A cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong trường hợp doanh nghiệp có ngành nghề và quy mô phù hợp, cũng như có khả năng được mua lại, VNVC | Tư vấn M&A sẽ tiến hành trao đổi với chủ sỡ hữu doanh nghiệp về kế hoạch cũng như các bước cụ thể để thực hiện M&A.

Quy trình thẩm định giá và tư vấn M&A cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy trình thẩm định giá và tư vấn M&A cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hiện nay do nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới, rất nhiều các doanh nghiệp và cá nhân muốn thông qua hình thức M&A để thực hiện: mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực mà mình có lợi thế hoặc gia nhập vào phát triển tại thị trường Việt Nam. Nắm bắt được xu hướng đó, Công ty CP Thẩm định giá và Tư vấn thực hiện tư vấn, môi giới cho các doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài về các vấn đề mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.

Quy trình thực hiện như sau:
– Các đơn vị doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ có nhu cầu thực hiện bán một phần hoặc toàn bộ hoặc cổ phần chi phối thương hiệu / doanh nghiệp liên hệ với VNVC | Tư vấn M&A để được tư vấn bước đầu và gửi hồ sơ cho VNVC | Tư vấn M&A nghiên cứu trước.
– VNVC | Tư vấn M&A hẹn lịch khảo sát doanh nghiệp
– Trong trường hợp doanh nghiệp có ngành nghề và quy mô phù hợp, cũng như có khả năng được mua lại, VNVC | Tư vấn M&A sẽ tiến hành trao đổi với chủ sỡ hữu doanh nghiệp về kế hoạch cũng như các bước cụ thể để thực hiện M&A.
– Hai bên thương thảo hợp đồng tư vấn và môi giới M&A.
– Thực hiện kết nối giữa bên mua và bên bán.
– Giải quyết các vấn đề khúc mắc để quá trình M&A suôn sẻ.
– Hỗ trợ hoặc tư vấn các bên thực hiện thủ tục pháp lý phù hợp.
– Chủ doanh nghiệp tiếp tục thực hiện tạm ứng phí khi hoạt động tư vấn / môi giới đã thực hiện bước này.
– Hoàn tất tư vấn / môi giới M&A
– Thanh lý và thanh quyết toán hợp đồng tư vấn / môi giới M&A.

M&A trong lĩnh vực khoáng sản

M&A trong lĩnh vực khoáng sản

Theo thống kê, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn 1,47% trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động. Các doanh nghiệp này tham gia chủ yếu trong lĩnh vực khai thác khoáng sản phục vụ công nghiệp sản xuất xi măng, đá ốp láy, nước khoáng (lavie), vàng, niken, titan sa khoáng, đá phiến lớp, quặng sắt.

M&A trong lĩnh vực khoáng sản

M&A trong lĩnh vực khoáng sản

Với tiềm năng khoáng sản, cùng với sự tháo gỡ về cơ chế và sự phát triển của các doanh nghiệp, sẽ có nhều thương vụ M&A trong ngành khoáng sản trong giai đoạn tới.

M&A TRONG NGÀNH KHOÁNG SẢN – NHÌN TỪ MỘT THƯƠNG VỤ

Năm 2010, giới chuyên môn và quan sát torng lĩnh vực đầu tư khóang sản đã rất chú ý và ấn tượng với việc Masan công bố thỏa huận mua lại cổ phần kiểm soát torng công ty Liên doanh khai thác Ché biến Khoáng sản Núi Pháo (“Nuiphaovica”) từ Công ty Tiberon Minerals. Theo thông tin từ chủ đầu tư, Nuiphaovica kiểm soát một trong những dự án vonfram chưa được khai thác lớn nhất thế giới, một mỏ đa kim với trữ lượng được kiểm chứng và ước đoán vào khoảng 55,4 triệu tấn ở tỉnh Thái Nguyên. Khi đi vào hoạt động hoàn chỉnh, mỏ này cũng sẽ là một trong những mỏ sản xuất lớn nhất thế giới về bismuth và flourit cấp axit.

Tiếp đến, đầu năm 2011, Masan tiếp tục công bố khoản đầu tư thành công vào Công ty Tài nguyên Masan từ các quỹ đầu tư do Công ty quản lý quỹ Mount Kellett tư vấn – Mount Kellett là tập đoàn của Mỹ đang quản lý nguồn vốn tư nhân có giá trị nhiều tỷ đola Mỹ. Mount Kellett sẽ đầu tư khoảng 2100 tỷ đồng để đổi lấy 20% cổ phần của Cty Tài nguyên Masan.

Giới quan sát nhận thấy, đây là những tín hiệu đầu tiên thể hiện sự quyết tâm của Msan trong việc triển khai thương vụ Nuiphaovica. Thương vụ này cũng cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn quan tâm đấn các cơ hội đầu tư trong lĩnh vực khai khoáng tại Việt Nam. Mặt khác, cũng cho thấy, M&A có thể là một trong những giải pháp để thực thi hiệu quả các dự án trong lĩnh vực này.

CƠ HỘI NÀO CHO M&A KHOÁNG SẢN TẠI VIỆT NAM

Có ba nguyên nhân chính có thể tác động đến M&A trong lĩnh vực khoáng sản tại Việt Nam. Đó là, Việt Nam vẫn được đánh giá có nhiều tiềm năng về khoáng sản; sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư, nhất là khối tư nhân; việc ban hành Luật khoáng sản và những quy định cụ thể về chuyên nhượng dự án thăm dò và khai thác mỏ.

Tiềm năng khoáng sản và sự phát triển ngành khai khoáng tại Việt Nam

Việt Nam luôn được biết đến với nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú với trên 5.000 mỏ và điểm quặng của hơn 60 loại khóang sản khác nhau. Trong đó có một số loại khoáng sản được dự báo có trữ lượng lớn như boxit, titan, đá nguyên liệu xi măng… Việt Nam cũng có những mỏ quặng tiềm năng như sắt, vàng, vonfram, đất hiếm… Theo thống kê, giá trị công nghiệp ngành khai thác khoáng sản (trừ dầu khí) đã tăng từ 4,8% (năm 1995) lên đến 10% GDP hàng năm của Việt Nam trong những năm gần đây.

Mặc dù phong phú về chủng loại và nhiều về số lượng nhưng phần lớn các mỏ, điểm mỏ khoáng sản đã phát hiện ở Việt Nam chủ yếu là các mỏ nhỏ và vừa. Mặt khác, do hạn chế về vốn đầu tư, công nghệ khai thác nên các mỏ đang khai thác chủ yếu có quy mô nhỏ, hoặc một số mỏ lớn được chia thành nhiều khu vực để khai thác với quy mô nhỏ.

Hoạt động chế biến khoáng sản phần lớn được thực hiện đồng thời với khai thác khoáng sản, tuy nhiên các doanh nghiệp Việt nam chưa chú trọng và chưa đủ năng lực để triển khai hoạt động này.

Sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài

Trước khi Luật khoáng sản được ban hành, hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu do các tổng công ty, công ty nhà nước thực hiên tại các mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò bằn nguồn vôn nhà nước như apatit, quặng sắt, than, đá vôi, sét làm nguyên liệu xi măng, thiếc, antimon, vofram… với số lượng khỏang gần 200 mỏ, khu vực khai thác trong cả nước được khai thác, thăm dò.

Sau khi Luật khoáng sản được ban hành, chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia, hoạt động khai thác… Theo thống kê số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động trong công nghiệp khai thác mỏ tăng nhanh từ 427 doanh ghiệp (năm 2000) lên gần 1.400 doanh nghiệp vào thời điểm hiện tại. Trong đó, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng chiếm tới gần 1.200 doanh nghiệp với quy mô nhỏ và vừa.

Trong nước đã hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, một số doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong ngành khai thác khoáng sản như: tập doàn Khai thác Than – Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt Nam, Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam. Một số doanh nghiệp trong nước đã ổn định và phát triển trong lĩnh vực khai khoáng như: Tổng công ty Khoáng sản Hà Tĩnh, Công ty Khoáng sản Bình Định, Hòa Phát…

Theo thống kê, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn 1,47% trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động. Các doanh nghiệp này tham gia chủ yếu trong lĩnh vực khai thác khoáng sản phục vụ công nghiệp sản xuất xi măng, đá ốp láy, nước khoáng (lavie), vàng, niken, titan sa khoáng, đá phiến lớp, quặng sắt. Tuy tỷ lệ tham gia không cao, nhưng do có kinh nghiệm trong khâu tìm kiếm, đánh giá và triển khai dự án, các nhà đầu tư này lựa chọn những cơ hội đầu tư tương đối tốt và hứa hẹn tiềm năng.

Luật Khoáng sản và cơ hội cho hoạt động M&A trong lĩnh vực khoáng sản tại Việt Nam

Trong thời gian qua, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác khoáng sản tại Việt Nam đã điễn ra, tuy nhiên các thông tin về thương vụ này cũng ít khi được công bố. Nhiều thương vụ cũng mang tính chất mua đi bán lại giấy phép. Tuy nhiên trên thực tế có tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản do điều kiện khác quan, không thể tiếp tục thực hiện dự án đầu tư, có nhu cầu chuyển nhượng dự án đã đầu tư để thu hồi vốn.

Luật Khoáng sản với hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2011 đã có điều khoản cho phép chuyển nhượng quyền thăm dò và quyền khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng quyền thăm dò và khai thác khoáng sản phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản chấp thuận.

Với tiềm năng khoáng sản của Việt Nam, cùng với sự tháo gỡ về cơ chế cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp ngành khoáng sản, chúng ta có thể chứng kiến nhiều thương vụ M&A trong ngành này trong những năm tới. Nhà nước nên nhìn nhận xu hướng này theo hướng tích cực, sự điều tiết của thị trường sẽ chọn lựa được nhà đầu tư phù hợp nhất cho dự án. Về khía cạnh doanh nghiệp, nên nhìn nhận đây là cơ hội để có những thương vụ đầu tư thành công trong lĩnh vực khoáng sản.

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Tiến hành tổng kiểm kê, đánh giá lại theo thị trường tài sản Nhà nước giao DNNN quản lý, sử dụng, bao gồm cả đất đai, tài nguyên, tài sản cố định và các tài sản khác. Thực hiện định giá lại toàn bộ tài sản và tính đúng, tính đủ chi phí của DNNN.

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Triển vọng và cơ hội cho M&A phát triển tại Việt Nam

Khá nhiều hoạt động M&A thời gian qua có liên quan đến việc mua lại cổ phần của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cổ phần hóz. Vì vậy, thúc đẩy cổ phần hóa DNNN, nhất là những doanh nghiệp đang nắm giữ những lợi thế và nguồn lực kinh doanh chưa tính đủ vào giá trị tài sản, có thể sẽ là cơ sở để phát triển hoạt động M&A.

Sáp nhập và mua lại DNNN là vấn đề phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố thể chế đặc thù, không còn đơn giản chỉ liên quan đến nhu cầu bản thân các doanh nghiệp tham gia.

TRIỂN VỌNG VÀ CƠ HỘI

Cổ phần hóa DNNN tạo những điều kiện ban đầu để đẩy mạnh M&A, ít nhất nhìn từ khía cạnh gia tăng nguồn cung trên thị trường mua bán quyền sở hữu doanh nghiệp và tăng số lượng DNNN tham gia hoạt động M&A với tư cách của bên bán.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã có một số định hướng lớn về cải cách DNNN, nhấn mạnh tới đẩy mạnh cổ phần hóa, xây dựng một số tập đoàn kinh tế đa sở hữu…

Quyết định 14/2011/QĐ-TTg ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN đã giảm thiểu đáng kể doanh nghiệp thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Nếu chỉ căn cứ các tiêu chí này, hàng loạt công ty TNHH một thành viên 100% sở hữu nhà nước hiện nay phải tiếp tục tiến hành đa dạng hóa sở hữu. Các nhà đầu tư hoàn toàn có thể kỳ vọng vào viễn cảnh cổ phần hóa gần một nửa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (sắt thép, xăng dầu, viễn thông, xây dựng, bất động sản, xi măng, dệt may, hóa chất cơ bản, đầu tư tài chính, kinh doanh lương thực…) và đại đa số các tổng công ty 90.

Trường hợp các chủ trương này được thực hiện, sẽ có một khối lượng lớn vốn và tài sản nhà nước được chào bán. Số liệu khảo sát của Cục Tài chính doanh nghiệp tháng 6/2010 tại 81/96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước cho thấy, vốn chủ sở hữu nhà nước đã lên tới 572.582 tỷ đồng, tổng giá trị tài sản sổ sách 1.518.999 tỷ đồng, chưa tính tới việc tăng giá trị khi định giá theo nguyên tắc thị trường.

Xét về sức hút thương mại thuần túy, việc đẩy mạnh cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong thời gian tới có thể tạo ra động lực và mối quan tâm không nhỏ của bên mua trên thị trường mua bán, sở hữu doanh nghiệp. Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hiện tại không được đánh giá cao về hiệu quả kinh doanh, nhưng rất ít nhà đầu tư có thể thờ ơ khi nhìn vào khối tài sản, nguồn lực quốc gia được phân bổ, địa lợi, đất đai và những lợi thế tiềm năng khác của khu vực doanh nghiệp quan trọng này.

Một thuận lợi khác là cho đến nay, toàn bộ DNNN đã căn bản chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp ( khoảng 4.000 doanh nghiệp cổ phần hóa với gần 35% có cổ phần nhà nước chi phối ở thời điểm cổ phần hóa và 1.200 công ty TNHH một thành viên tập trung ở 96 tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nông – lâm trường quốc doanh, các DNNN công ích). Trong điều kiện như vậy, các hoạt động M&A DNNN thông qua mua bán cổ phần, vốn góp sẽ thuận lợi hơn nhiều so với hình thức mua toàn bộ “ công ty nhà nước” hoạt động theo Luật DNNN trước đây.

NHỮNG TRỞ NGẠI VÀ GIẢI PHÁP

Thực tế là, không ít tổng công ty nhà nước đã được cổ phần hóa, nhưng các giao dịch M&A lớn nhất ở Việt Nam cho đến nay lại không liên quan nhiều đến loại hình DNNN này.

Có chăng chỉ là các trường hợp M&A mà chính các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đóng vai trò bên mua, như Viettel mua cổ phần Vinaconex (qua SCIC), sáp nhập Hà Tiên 1 với Hà Tiên 2, PVD mua nốt 49% cổ phần của công ty con PDI, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mua 20% cổ phần Ngân hàng Ocean Bank. Về phía đối tác có yếu tố nước ngoài, giao dịch đáng chú ý nhất là Bộ Tài chính đã đồng ý để HSBC tăng sở hữu tại Tập đoàn Bảo Việt, Unilever mua lại toàn bộ sở hữu tại liên doanh Unilever Vietnam với Vinachem.

Rõ ràng, bản thân việc cổ phần hóa các tập đoàn, tồng công ty và DNNN lớn chưa thể là điều kiện đủ để thúc đẩy hoạt động M&A. Việc cổ phần hóa tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm tăng nguồn cung cho thị trường mua bán sở hữu doanh nghiệp, nhưng chưa chắc tạo ra thành nguồn bán của giao dịch M&A. Tiêu chí xác định các DNNN có sở hữu nhà nước chi phối theo quyết định 14/2011/QĐ-TTg còn quá rộng và nếu vận dụng các văn cảnh pháp luật của Quyết định này thì có thể bao trùm hầu hết các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện nay. Một khi Nhà nước còn nắm sở hữu chi phối thì các đối tác khác, nếu có, chỉ có thể trở thành các cổ đông chiến lược hoặc cổ đông nhỏ, vì vậy, chưa đủ điều kiện để cấu thành giao dịch M&A. Đó là chưa kể các trường hợp không thuộc diện Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối, nhưng trong thực tế vẫn có sở hữu chi phối Nhà nước vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Cho đên thời điểm hiện nay, hầu hết công ty mẹ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa có dấu hiệu hay kế hoạch nào để trở thành bân bán của giao dịch M&A. Đối với các doanh nghiệp thành viên quan trọng của tổng công ty/ tập đoàn kinh tế nhà nước, M&A đương nhiên dẫn tới phá vỡ cấu trúc ngành nghề và liên kết nội bộ. Hơn nữa, Quyết định 14/2011/QĐ-TTg cũng đã quy định, chưa tiến hành đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp thành viên quan trọng. Như vậy, đối tượng DNNN có thể tham gia M&A với tư cách là bên bán chủ yếu tập trung ở DNNN độc lập thuộc các bộ, địa phương, SCIC và các công ty con cấp II, III thuộc tập đoàn/ tổng công ty nhà nước.

Cuối cùng, không thể bỏ qua các yếu tố hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của DNNN khi bàn về M&A. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả thấp kém của DNNN, thậm chí có ý kiến cho rằng, nếu tính đúng, tính đủ các chi phí (ví dụ giá trị quyền sử dụng đất) thì hầu hết các DNNN sẽ thua lỗ (2). Quản trị doanh nghiệp là yếu tố mà bên mua của giao dịch M&A chắc chắn sẽ quan tâm, tuy nhiên, đây là nhược điểm cố hữu, chưa thể khắc phục của phần lớn DNNN hiện nay như thiếu minh bạch, cơ chế hoạt động chưa hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường…

Thực tế cho thấy, để cổ phần hóa DNNN thực sự trở thành động lực cho phát triển các hoạt động M&A ở Việt Nam, ngoài các giải giáp hoàn thiện khung khổ pháp luật cho hoạt động M&A nói chung (như bổ sung các quy định nhằm đa dạng hóa hoạt động M&A, các vấn đề về thuế, chế độ miến trừ, phương pháp tính mức độ tập trung kinh tế…), cần phải có những đột phá trong quá trình cải cách DNNN như:

– Chuyển đổi toàn bộ công ty mẹ các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước thành công ty cổ phần. Tiếp tục giảm mạnh đối tượng doanh nghiệp mà Nhà nước cần nắm giữ sở hữu chi phối. Nhà nước chỉ nên sở hữu 100% vốn điều lệ tại các DNNN trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng, công ích và các hoạt động thiết yếu cho phát triển kinh tế, xã hội của nghành và địa phương.

– Tiến hành tổng kiểm kê, đánh giá lại theo thị trường tài sản Nhà nước giao DNNN quản lý, sử dụng, bao gồm cả đất đai, tài nguyên, tài sản cố định và các tài sản khác. Thực hiện định giá lại toàn bộ tài sản và tính đúng, tính đủ chi phí của DNNN.

– Không phân biệt vị trí và vai trò của DNNN và doanh nghiệp khác trong ban hành và thực hiện các chính sách phát triển. Xóa bỏ chế độ, hình thức cho vay, cấp tín dụng theo chỉ đạo, chỉ định dưới mọi hình thức của cơ quan quản lý nhà nước. Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước không ban hành các quyết định “khoanh nợ, giãn nợ” cho doanh nghiệp, không nhận việc trả nợ, xử lý nợ thay cho doanh nghiệp. Nhà nước không trực tiếp sử dụng DNNN trở thành công cụ quản lý của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thực hiện sản phẩm, dịch vụ thuộc độc quyền nhà nước. Hình thái hai hệ thống pháp luật riêng rẽ về mua sắm chính phủ ( thuộc mua sắm công) và mua sắm của DNNN ( mua sắm tư).

– Cơ cấu lại và cải thiện quản trị DNNN. Tách biệt chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý hành chính nhà nước, tiến tới thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện quyền sở chủ sở hữu nhà nước. Ban hành quy định hướng dẫn trình tự, thủ tục ban hành quyết định của chủ sở hữu nhà nước đảm bảo cách thức tác động của chủ sở hữu Nhà nước vào DNNN tương đồng với cách thức tác động của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, không sử dụng các hình thức quyết định hành chính nhà nước để truyền tải quyết định của chủ sở hữu nhà nước. Ban hành văn bản pháp luật chế định cơ chế quản lý và giám sát thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp. Minh bạch hóa hoạt động đầu tư kinh doanh của chủ sở hữu nhà nước trong nên kinh tế. Áp dụng chuẩn mực minh bạch hóa thông tin của công ty niêm yết đối với DNNN. Tăng cường giám sát, đánh giá hoạt động của DNNN quy mô lớn, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước…

Tìm hiểu về M&A trên thị trường chứng khoán

Tìm hiểu về M&A trên thị trường chứng khoán

Nhìn chung M&A là một quá trình phức tạp, kéo dài thậm chí hàng năm và các bên tham gia phải tự nhận thức được mức độ phức tạp của quá trình đó. Tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn M&A phải có một đội ngũ chuyên gia có kiến thức, có kinh nghiệm chuyên sâu về các lĩnh vực khác nhau như luật pháp, tài chính DN, chứng khoán, định giá…

Tìm hiểu về M&A trên thị trường chứng khoán

Tìm hiểu về M&A trên thị trường chứng khoán

Ông NGUYỄN THÀNH LONG, Phó vụ trưởng Vụ Quản lý quỹ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư về các vấn đề liên quan đến hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) nói chung và M&A trên thị trường chứng khoán nói riêng. Cũng theo ông Long, M&A có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp, tạo ra giá trị lớn hơn so với giá trị mang lại cho doanh nghiệp, cho cổ đông nếu hoạt động độc lập, nhưng nhìn chung, M&A là một quá trình phức tạp, kéo dài và các bên tham gia phải nhận thức được mức độ phức tạp của quá trình đó. PHẠM OANH thực hiện.

Theo thống kê của Công ty AVM, năm 2010 có khoảng 345 thương vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đã diễn ra tại Việt Nam. Để giúp công chúng đầu tư hiểu hơn về M&A, xin ông đưa ra một khái niệm dễ hiểu, dễ hình dung về hoạt động này?

Cụm từ M&A (Merge & Accquisition) bao hàm nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, có thể là hoạt động tái tổ chức DN, và/hoặc hoạt động độc tập trung kinh tế. Tạm thời có thể chia thành 4 hoạt động: (i) hợp nhất; (ii) sáp nhập (Merge); (iii) mua lại DN thông qua việc mua cổ phiếu (Stock sales) để chi phối DN; (iv) mua lại tài sản – asset sales (Accquisition). Luật doanh nghiệp, luật cạnh tranh đã có định nghĩa về các hoạt động này.

Về cơ bản, hoạt động hợp nhất, sáp nhập là quá trình thống nhất tổ chức giữa các DN bị hợp nhất, bị sáp nhập (tổ chức lại DN). Kết quả của việc hợp nhất và sáp nhập đều dẫn tới chỉ còn tồn tại một DN, đó có thể là DN hoàn toàn mới được lập ra (trong trường hợp hợp nhất) hoặc tiếp tục duy trì một DN đã có từ trước (trong trường hợp sáp nhập) và DN hình thành này sẽ tiếp nhận toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ của các DN bị hợp nhất, bị sáp nhập. Trong khi đó, kết quả hoạt động mua bán lại DN là sự thiết lập quan hệ sở hữu giữa DN mua lại và DN bị mua lại.

Trực tiếp điều tiết hoạt động M&A tại Việt Nam là những văn bản pháp lý nào, thưa ông?

Liên quan tới M&A, có nhiều các quy định đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, vẫn cần phải hoàn thiện nhiều để các hoạt động M&A có thể thực hiện an toàn, bảo vệ được quyền lợi của các bên liên quan. Đối với các hoạt động M&A, hiện Việt Nam có (i) Luật cạnh tranh 2004, Điều 16 đến 24; (ii) Bộ Luật dân sự 2005, Điều 94, 95; (iii) Luật Doanh Nghiệp 2005, Điều 152, 153; (iv) Luật đầu tư 2005, Điều 21, 25, 26; (v) Luật Chứng khoán 2006, Điều 29, 32, 69; (vi) Luật chứng khoán sửa đổi. Mỗi luật hướng tới những mục tiêu điều chỉnh khác nhau, trong đó Luật Doanh Nghiệp là cơ sở pháp lý chính cho hoạt động M&A. Các luật khác chỉ đề cập hoặc điều chỉnh một số nội dung nhất định của tiến trình M&A, mà nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp.

M&A là hoạt động khá phức tạp, kết quả của một thương vụ M&A có tác động tới nhiều bên liên quan và vì vậy, cần thiết phải có những quy định chi tiết hóa quá trình M&A. Các mục tiêu căn bản mà một thương vụ M&A cần đạt được là bảo vệ được quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là thiểu số; bảo vệ quyền lợi của chủ nợ; bảo vệ quyền lợi của người lao động và bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

Để đạt được các mục tiêu này, nhiều chi tiết kỹ thuật, hoặc tối thiểu là nguyên tắc thực hiện nên được thể chế hóa bằng quy định pháp luật. Nhìn chung, quy định về M&A tại Việt Nam hiện nay đã bắt đầu hình thành với những nội dung căn bản nhất.

Tuy nhiên, những quy định này cần phải tiếp tục hoàn thiện, đồng thời kết hợp với việc hệ thống hóa các quy định còn nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp lý vào văn bản có mức độ pháp lý cao hơn. Đồng thời, cũng phải có những quy định hướng dẫn mang tính kỹ thuật ở những văn bản có mức độ pháp lý thấp hơn, chẳng hạn như những quy định về quản trị công ty hướng dẫn công ty có những quy định tại điều lệ cho phép Hội đồng quản trị áp dụng các biện pháp nhằm chống thâu tóm thù nghịch, hay thậm chí là quy định mang tính nguyên tắc về việc xác định mức giá chào mua công khai nhằm đảm bảo quyền lợi của cổ đông cũng như ngăn chặn các hiện tượng lạm dụng thị trường. Mục đích là để tạo ra hành lang pháp lý nhằm hướng dẫn một cách xuyên suốt và có trình tự, trật tự toàn bộ quá trình M&A và không ảnh hưởng tiêu cực tới các hoạt động thị trường nói chung.

Trong lĩnh vực chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ làm gì để tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý liện quan đến hoạt động M&A, thưa ông?

Hiện nay, nhiều nội dung liên quan đến hoạt động M&A trong phạm vi điều chỉnh của Luật Chứng khoán đang được dự thảo. Cụ thể, Dự thảo Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Chứng khoán, đang được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước lấy ý kiến, cũng đã có những quy định về điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký phát hành cổ phiếu để hoán đổi áp dụng cho hoạt động hợp nhất, sáp nhập của các công ty đại chúng. Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định cũng có các nội dung liên quan tới hoạt động chào mua công khai (thực chất là nâng cấp từ Thông tư 194/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn việc chào mua công khai cổ phiếu của công ty đại chúng, chứng chỉ quỹ đóng ban hành ngày 2/10/2009).

Ngoài ra, để tạo hành lang pháp lý cho việc tái cấu trúc hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng đã dự thảo các quy định tại Thông tư thay thế Quy chế hướng dẫn tổ chức, hoạt động công ty quản lý quỹ, Quy chế hướng dẫn tổ chức, hoạt động công ty chứng khoán, ban hành kèm theo các Quyết định 35/2007/QĐ-BTC, Quyết định 27/2007/QĐ-BTC, trong đó hướng dẫn một cách chi tiết toàn bộ trình tự, thủ tục việc hợp nhất, sáp nhập các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

Ngoài những nội dung căn bản của hoạt động hợp nhất sáp nhập, thì các quy định này còn bao hàm những nội dung đặc trưng khác, chẳng hạn như các nguyên tắc áp dụng khi bàn giao quyền, trách nhiệm giữa các bên liên quan, việc duy trì hệ thống, nhân sự, ứng xử với khách hàng nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong suốt quá trình thực hiện.

Khảo sát của Báo Đầu tư Chứng khoán và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cuối năm 2010 cho thấy, có tới 20% DN có tâm trạng lo lắng về áp lực bị thâu tóm sau khi niêm yết. Vậy theo ông, DN phải làm gì để tự bảo vệ mình trước khả năng bị thâu tóm?

Hoạt động M&A có thể là thân thiện, dựa trên sự đồng thuận của tất cả các bên, nhưng cũng có thể là không thân thiện, tạm gọi là hoạt động thâu tóm (hostile takeover). Hoạt động M&A coi là thân thiện, hoặc không thân thiện, khi ta xét từ quan điểm của công ty mục tiêu (cổ đông, hội đồng quản trị, người lao động).

Trong hoạt động M&A thân thiện, các công ty tham gia chủ động tham gia quá trình thương thảo có tính xây dựng. Điều này thể hiện rõ nhất tại các thương vụ hợp nhất, sáp nhập hoặc M&A theo hình thức bán tài sản, khi quyền quyết định hợp nhất, sáp nhập, bán tài sản với giá trị lớn được thực hiện tại Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Điều lệ Công ty và theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với các hoạt động như chào mua công khai, thì có thể xảy ra tình trạng thâu tóm không thân thiện, khi mà công ty mục tiêu không muốn bị thâu tóm hoặc khi hoạt động thâu tóm đang được thực hiện một cách lặng lẽ mà hội đồng quản trị của công ty mục tiêu hoàn toàn không biết về kế hoạch đó.

Để hạn chế các hoạt động bị thâu tóm, người ta có thể sử dụng một số quy định quản trị công ty để phòng ngừa theo nguyên tắc làm tăng tối đa chi phí cho hoạt động thâu tóm, làm giảm mức độ kiểm soát của bên đi thâu tóm sau khi M&A. Đó có thể là các giải pháp chiến lược (được áp dụng liên tục trong quy chế quản trị công ty) hoặc giải pháp chiến thuật (được áp dụng trong trường hợp phát sinh tình thế). Về nguyên tắc, khả năng DN tự bảo vệ mình trước nguy cơ bị thâu tóm là có thể thực hiện được, nhưng điều này không dễ dàng khi việc áp dụng chúng trong thực tiễn đòi hỏi sự am hiều sâu sắc về quản trị công ty của đội ngũ nhân sự cao cấp của công ty.

 

Ông đánh giá như thế nào về chất lượng dịch vụ M&A tại Việt Nam hiện nay?

Theo quy định của pháp luật, tư vấn M&A không phải là nghiệp vụ kinh doanh có điều kiện của riêng các công ty chứng khoán, mặc dù theo thông lệ, các tổ chức tư vấn địch vụ này thường là các ngân hàng đầu tư (công ty chứng khoán). Tuy nhiên, trong mỗi thương vụ M&A, có có sự tham gia của các tổ chức khác như kiểm toán, công ty luật… Hiện nay có khá nhiều công ty chứng khoán, tư vấn tài chính, kiểm toán tham gia vào làm trung gian, môi giới cho các bên trong hoạt động M&A. Tuy nhiên, do có những hạn chế về nhân sự, tính chuyên nghiệp, cơ sở dữ liệu, thông tin…, nên các đơn vị này chưa thể thành cầu nối cho bên mua-bán gặp nhau một cách hiệu quả.

Nhìn chung M&A là một quá trình phức tạp, kéo dài thậm chí hàng năm và các bên tham gia phải tự nhận thức được mức độ phức tạp của quá trình đó. Tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn M&A phải có một đội ngũ chuyên gia có kiến thức, có kinh nghiệm chuyên sâu về các lĩnh vực khác nhau như luật pháp, tài chính DN, chứng khoán, định giá…

DN Việt Nam khi muốn thực hiện M&A cần lưu ý những vấn đề gì, thưa ông?

Các DN Việt Nam cần nhận thức rằng, M&A có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp, tạo ra giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị mang lại cho doanh nghiệp, cho cổ đông nếu hoạt động một cách độc lập. Sức mạnh tổng hợp là động cơ quan trọng, mang lại nhiều lợi ích cho DN sau khi M&A: đạt được hiệu quả dựa vào quy mô, giảm nhân viên và các chi phí, thực hiện đa dạng hóa và loại trừ rủi ro phi hệ thống, tăng cường khả năng thanh khoản, thị phần.. rút ngắn thời gian thâm nhập một thị trường mới, giảm thiểu đáng kể những rào cản gia nhập thị trường.

Về kỹ thuật thực hiện, các bên tham gia cần lưu ý tìm hiểu kỹ các quy định pháp luật về M&A; quy định về tập trung kinh tế chống hạn chế cạnh tranh, các vấn đề liên quan đến thuế, nghĩa vụ đối với nhà nước. Cần đánh giá đúng đắn tình hình, từ nhận dạng mục tiêu, chiến lược phát triển, tiêu chí lựa chọn đối tác, vấn đề xác định giá trị DN (tỷ lệ hoán đổi, giá chào mua). Bên cạnh đó, vấn đề bảo mật thông tin cũng là một yếu tố quan trọng quyết định tới sự thành bại của một thương vụ M&A.

Mua bán doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng

Mua bán doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng

Điều này được áp dụng trong lĩnh vực công nghiệp (thông qua thực tế các giao dịch M&A trong năm 2010) sẽ giúp các doanh nghiệp có tham vọng bớt đi rất lớn phần công sức mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, cũng như mở rộng dây chuyền sản xuất.

Mua bán doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng

Mua bán doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng

Số lượng các thương vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp đang có xu hướng gia tăng và đa dạng theo các phân ngành. Song, xu hướng có bùng nổ giao dịch trong thời gian tới hay không còn phụ thuộc vào các thông tin kinh tế có lợi cho doanh nghiệp.

Ông Đặng Xuân Minh, Tổng giám đốc công ty Avalue Vietnam (AVM) nhận định: “M&A trong lĩnh vực công nghiệp tiếp tục tăng về số lượng và giá trị giao dịch của thương vụ”. Xu hướng này bắt nguồn từ sự phục hồi kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Thực tế trong năm 2010 đã chứng mình nhận định trên là đúng, khi số lượng các thương vụ M&A trong lĩnh vực công nghiệp là rất lớn. Chưa có phân tích chi tiết đau là các thương vụ thuộc lĩnh vực công nghiệp (trong tổng số 354 thương vụ được công bố trên thị trường Việt Nam), nhưng nếu điểm tên các thương vụ này cho thấy tính đa dạng của các phân nhóm.

Theo danh sách thống kê chưa đầy đủ các thương vụ M&A do AVM công bố, tháng 3/2010, Tập đoàn Danieli (một trong những tập đoàn lớn nhất trên thế giới về sản xuất các nhà máy thép) đã mua 20% cổ phần của Tổng công ty Thép Việt Nam tại Công ty cổ phần Thép tấm miền Nam với trị giá 110 triệu USD (2.200 tỷ đồng). Trong lĩnh vực công nghiệp này, các thương vụ M&A còn được biết đến với thương vụ của Tổng công ty Thép Việt Nam và Công ty cổ phần Lilama Hà Nội (trị giá 579 tỷ đồng) vào tháng 4/2010; thương vụ giữa Tập đoàn Thép JFE (Nhật Bản) và Nhà máy Sản xuất ống thép xoắn Jeong An Vina tại Đồng Nai với trị giá 306 tỷ đồng vào tháng 11/2010…

Ở phân nhóm công nghiệp – năng lượng, tháng 6/2010, thương vụ Tập đoàn Masan mua 75% cổ phần (trị giá 2.600 tỷ đồng) của Quỹ đầu tư Dragon Capital tại Công ty liên doanh Nuiphaovica cũng là một trong những thương vụ đáng chú ý về giá trị giao dịch lớn trên thị trường Việt Nam. Tiếp theo là các thương vụ đáng chú ý như Công ty cổ phần Xây lắp dầu khí bán cổ phần cho Tập đoàn Hyundai (Hàn Quốc) trị giá 250 tỷ đồng vào tháng 8/2010; thương vụ Công ty Cổ phần Đầu tư Dầu khí V.I.P và Công ty TNHH Vietnam Investment Partners có trị giá 126 tỷ đồng vào tháng 8/2010…

Ở phân nhóm công nghiệp – thực phẩm, một loạt thương vụ M&A cũng đã diễn ra trong năm 2010. Đơn cử, thương vụ giữa công ty cổ phần Đường Biên Hòa và Công ty TNHH Hải Vi có trị giá 525 tỷ đồng vào tháng 4/2010 được đánh giá là một trong những thương vụ lớn. Hay như thương vụ Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) bán nhà máy cà phê cho Công ty cổ phần Trung Nguyên với trị giá 800 tỷ đồng vào tháng 10/2010 cũng là thương vụ gây được sự chú ý tại Việt Nam. Liên quan đến phân nhóm này, còn một số thương vụ đáng chú ý như thương vụ giữa Vinamilk và Công ty TNHH Miraka (trị giá 467 tỷ đồng), thương cụ giữa Công ty cổ phần Kinh Đô và Công ty cổ phần Kinh Đô miền Bắc (trị giá 147,4 tỷ đồng), Công ty cổ phần Hùng Vương và Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (trị giá 375 tỷ đồng).

Điểm qua một số thương vụ trong năm 2010 của lĩnh vực sản xuất công nghiệp cho thấy, số lượng các giao dịch M&A thuộc lĩnh vực này hết sức đa dạng. Phân tích của ông Đặng Xuân Minh cho thấy, sở dĩ có các thương vụ ở lĩnh vực công nghiệp, là do các doanh nghiệp đang nhìn thấy Việt Nam là một thị trường tiềm năng ấn tượng để sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp. Hơn nữa, với nền kinh tế đang được định hướng phát triển theo quy mô tăng trưởng xuất khẩu, các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu những mặt hàng chủ lực đang là đối tượng đáng chú ý.

Trung tuần tháng 5/2011, trong buổi họp báo công bố thông tin về Diễn đàn M&A 2011, các chuyên gia đã phân tích rằng, xu hướng mua lại doanh nghiệp sẽ đem đến lợi thế cho các doanh ngiệp là bớt đi được đối thủ cạnh tranh và có cơ hội khai thác được thị trường tốt hơn thông qua thị phần của các đối tác trong thương vụ M&A đó.

Điều này được áp dụng trong lĩnh vực công nghiệp (thông qua thực tế các giao dịch M&A trong năm 2010) sẽ giúp các doanh nghiệp có tham vọng bớt đi rất lớn phần công sức mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, cũng như mở rộng dây chuyền sản xuất.

Sản xuất công ngiệp được coi là xương sống của nền kinh tế. Do đó, các thương vụ M&A trong suốt thời gian qua xoay quanh lĩnh vự công nghiệp và xu hướng các thương vụ M&A diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực này là điều dễ dự đoán.

Tuy nhiên, yếu tố hỗ trợ giao dịch trong lĩnh vực công nghiệp vẫn phụ thuộc cơ bản vào các thông tin kinh tế vĩ mô và chính sách điều hành của Chính phủ. Lý do được đưa ra, theo nhận định của các chuyên gia, việc sản xuất công nghiệp đòi hỏi vốn lưu động rất lớn. Ở bối cảnh mà lãi suất vốn vay đang ở mức cao như hiện nay, việc mở rộng sản xuất – kinh doanh là bài toán khó với các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, nếu các yếu tố đầu vào sản xuất như giá nguyên, vật liệu không thuận lợi, các doanh nghiệp sản xuất luôn đứng trước bài toán thu hẹp sản xuất để giảm thiểu rủi ro và chờ đợi chính sách mới. Do đó, nếu kinh tế vĩ mô không thuận lợi, bản thâm doanh nghiệp gặp khó khăn thi doanh nghiệp rất khó nghĩ tới phương án mở rộng, hay nói cách khác, rất khó nghĩ tới phương án đi mua doanh nghiệp khác.

Đổi mới quản trị sau khi mua bán, sát nhập doanh nghiệp

Đổi mới quản trị sau khi mua bán, sát nhập doanh nghiệp

Quá trình đầu tư được bắt đầu với ngân sách 25 triệu USD từ năm 2009 và đang thu được những kết quả khả quan. Mô hình kinh doanh, như trong lĩnh vực nhân thọ đã và đang thực hiện chuyển đổi quan trọng trong mô hình kinh doanh dựa trên các nền tảng mới về công nghệ và quản lý.

Đổi mới quản trị sau khi mua bán, sát nhập doanh nghiệp

Đổi mới quản trị sau khi mua bán, sát nhập doanh nghiệp

Những điểm đáng lưu ý trong quản trị công ty sau khi HSBC đầu tư vào Tập đoàn Bảo Việt.

Thương vụ HSBC mua 10% cổ phiếu của Tập đoàn Bảo Việt khi Bảo Việt thực hiện IPO được tạp chí Financial Times đánh giá là thương vụ thành công nhất của năm 2007. Vào cuối năm 2009 và đầ năm 2010, HSBC hoàn thành việc đầu tư khoản 100 triệu USD để mua tiếp thông qua phát hành riêng lẻ thêm 8% vốn chủ sở hữu. Thương vụ này cũng là một trong hoạt động M&A lớn nhất trong năm tại Việt Nam.

HSBC đã đầu tư và tham gia hoạt động của Bảo Việt với tư cách là một cổ đông chiến lược chiếm tỷ lệ sở hữu khá lớn là 18% vốn chủ sử hữu. Cùng với việc đầu tư vốn vào doanh nghiệp, hai bên có thỏa thuận hợp tác đầu tư và chuyển giao công nghệ. Theo đó, HSBC và Bảo Việt sẽ thực hiện chuyển giao công nghệ nhằm thực hiện chuyển đổi và tái cấu trúc doanh nghiệp thời kỳ hậu M&A. Nội dung quá trình bao gồm:

ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ CÔNG TY (CORPORATE GOVERNANCE)

Để đánh giá chất lượng quản trị công ty của Bảo Việt sau khi thực hiện cổ phần hóa và bán cổ phần cho cổ động chiến lược HSBC và các cổ đông khác, có thể sử dụng Chỉ số Gov-Score do Lawrence D.Brown và Marcus L.Caylor phát triển năm 2005 cho giai đoạn 2007-2010.

Năm 2006, Bảo Việt hoạt động dưới mô hình doanh nghiệp nhà nước, điểm quản trị trong giai đoạn này rất thấp. Sau khi thay đổi về sở hữu và hoạt động dưới mô hình công ty cổ phần, cùng với sự tham gia của các cổ đông lớn là các cổ động chiến lược, trong đó có HSBC, qua biểu đồ bên dưới, có thể thấy, hệ số quản trị của Tập đoàn Bảo Việt đã tăng dần qua các năm.

Việc đổi mới quản trị công ty tại Bảo Việt tập trung nâng cao vai trò của HĐQT, đại diện của các cổ đông trong thực hiện có hiệu quả chức năng của mình trong giám sát, chiến lược, quản trị đầu tư, tài chính, rủi ro, quản lý thông qua thành lập các ủy ban chức năng hỗ trợ hoạt động cho Hội đồng quản trị bao gồm: Ủy ban Kiểm toán, Ủy ban Chiến lược và đầu tư, Ủy ban thù lao và Bổ nhiệm, Ủy ban ALCO được thực hiện xuyên suốt trong toàn Tập đoàn và các công ty con.

 

Song song với việc thành lập các ủy ban để hỗ trợ cho HĐQT thực hiện các chức năng của mình, bộ máy điều hành cũng được thay đổi để nâng cao tính chủ động, tăng cường tính chuyên môn hóa trong thực hiện các chức năng của Tập đoàn khi quản lý vốn tại các công ty con. Các điểm số quản trị tăng mạnh trong các năm 2009 và năm 2010 do việc áp dụng và đưa vào thực hiện các cơ chế quản trị tiên tiến theo thông lệ quốc tế, minh bạch thông tin và các tiêu chuẩn quản trị của thị trường chứng khoán quy định bởi pháp luật. Một ví dụ là Bảo Việt là một trong số rất ít các doanh nghiệp trên thị trường công bố báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế IFRS, nhằm thực hiện mục tiêu minh bạch hóa thông tin.

QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC

Vấn đề quan trọng sau M&A đó là quản trị nhân sự. Các công ty có hoạt động sáp nhập thường phải cử cán bộ thực hiện các hoạt động hỗ trợ chuyển giao công nghệ. Nhân sự của HSBC, ngoài việc tham gia quản trị ở HĐQT, các Hội đồng thành viên của Tập đoàn và các công ty con còn tham gia trực tiếp vào bộ máy quản lý điều hành của Bảo Việt ở các vị trí quan trọng cần sự hỗ trợ và trực tiếp chuyển giao công nghệ như công nghệ thông tin, quản lý rủi ro, truyền thông, marketing, phát triển sản phẩm, actuaries… Việc tham gia của các chuyên gia đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ và phát triển trình độ đội ngũ của Bảo Việt. Điều quan trọng then chốt là việc quản lý nguồn nhân lực quản trị, điều hành ngoài việc áp dụng các tiêu chuẩn hiện đại về phát triển nguồn nhân lực, còn phải giải quyết tốt và hài hòa về lợi ích của cả hai bên, minh bạch về thông tin và tạo nên sự đồng thuận về mục tiêu và chiến lược phát triển, phù hợp với văn hóa của hai doanh nghiệp.

ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, THƯƠNG HIỆU VÀ MÔ HÌNH KINH DOANH

Việc nâng cao trình độ công nghệ và quản lý theo các trình độ tiêu chuẩn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề trọng tâm của quá trình chuyển giao công nghệ. HSBC và Bảo Việt tập trung phát triển một nền tảng mới về công nghệ thông tin nhằm thực hiện chuyển đổi mô hình kinh doanh từ phân tán sang tập trung vào phát triển các hình thức dịch vụ tài chính kết hợp trong các lĩnh vực bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán ngân hàng.

Quá trình đầu tư được bắt đầu với ngân sách 25 triệu USD từ năm 2009 và đang thu được những kết quả khả quan. Mô hình kinh doanh, như trong lĩnh vực nhân thọ đã và đang thực hiện chuyển đổi quan trọng trong mô hình kinh doanh dựa trên các nền tảng mới về công nghệ và quản lý. HSBC cũng phối hợp với Bảo Việt trong phát triển thương hiệu thông qua đổi mới nhận diện thương hiệu thông qua đổi mới nhận diện thương hiệu một cách thống nhất trong toàn tập đoàn. Các vấn đề về một văn hóa kinh doanh hiện đại cũng đang từng bước được xây dựng theo các giá trị cốt lõi của thương hiệu.

KẾT QUẢ KINH TẾ CỦA HẬU M&A

 

Kết quả của hậu M&A được đánh giá dựa vào các mục tiêu chiến lược mà hai bên đặt ra trong quá trình triển khai thực hiện. Giai đoạn 2011 – 2012 là giai đoạn phát triển với mục tiêu chiến lược “Một Bảo Việt, Một nền tảng mới”. Theo đó, hai bên sẽ tập trung vào việc phát triển một nền tảng mới trên cơ sở công nghệ và quản trị hiện đại. Trên cơ sở một nền tảng mới, Bảo Việt phát triển trên một thương hiệu thống nhất và mô hình kinh doanh hiệu quả, có khả năng kết hợp cung cấp các dịch vụ tài chính trọn gói. Các mục tiêu trên đang được triển khai từng bước vững chắc. Giá cổ phiếu trong thời gian gần đây, với sự tăng trưởng vững chắc của cổ phiếu Bảo Việt (BVH), đã phần nào thể hiện lòng tin của nhà đầu tư vào tiềm năng tăng trưởng vững chắc và dài hạn của Bảo Việt.

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Bộ luật Lao động quy định cụ thể. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp; người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã ký với người lao động.

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh Sáp nhập & Mua lại Doanh nghiệp tại Việt Nam

Hiện nay, một số ý kiến ho rằng, Việt Nam không có một văn bản nào quy định cụ thể về hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A), nên hoạt động M&A chưa được thừa nhận chính thức và chưa thực sự phát triển.

Tuy nhiên, không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có quy định riêng và toàn diện điều chỉnh các hoạt động M&A. Theo một nghiên cứu của Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada , Nhật Bản, Trung Quốc đều không ban hành một đạo luật riêng về hoạt động M&A, mà hoạt động M&A vẫn được điều chỉnh bởi nhiều quy định pháp luật đan xen như: Luật Cạnh tranh, Chống độc quyền, Luật Công ty (1).

Thị trường M&A ở Việt Nam đã tồn tại từ trước khi Luật Cạnh tranh – văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này được ban hành. Để thực hiện giao dịch M&A, nhà đầu tư phải tuân thủ nhiều quy định pháp luật điều chỉnh cụ thể từng khía cạnh của hoạt động này, như Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Bộ luật Lao động…

Quyền được M&A

Xét ở góc độ quyền của doanh nghiệp, các quy định pháp luật của Việt Nam đã công nhận quyền thực hiện giao dịch M&A của nhà đầu tư, như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng… Quyền này được thể hiện thông qua một số quyền như: quyền được chào bán cổ phần, hoặc giá trị phần góp vốn của người chủ sở hữu vốn, hoặc giá trị phần vốn được quyền chào bán của doanh nghiệp, quyền bán doanh nghiệp (bao gồm bán tài sản của doanh nghiệp, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp đang sở hữu, hoặc bán toàn bộ doanh nghiệp nhà nước), quyền mua lại doanh nghiệp của các tổ chức kinh tế Việt Nam.

Với sự công nhận đối với các quyền nêu trên, đã có nhiều hình thức M&A được thực hiện trên thực tế như:

· Mua lại toàn bộ doanh nghiệp;

· Mua lại và hợp nhất doanh nghiệp;

· Mua lại và sáp nhập;

· Mua, bán, hoán đổi cổ phiếu của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;

· Mua và thâu tóm hợp tác xã thông qua hình thức chuyển nhượng phần vốn góp của xã viên;

· Mua và thâu tóm doanh nghiệp tư nhân;

· Thâu tóm thông qua mua lại tài sản doanh nghiệp (không bao gồm bất đông sản);

· Thâu tóm doanh nghiệp thông qua mua lại tài sản doanh nghiệp (bao gồm bất động sản);

· Thâu tóm doanh nghiệp thông qua mua nợ;

· Thâu tóm doanh nghiệp đối với một số doanh nghiệp đặc thù như công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm (2).

Các thủ tục pháp lý liên quan đến hình thức M&A

Các hình thức M&A nêu trên đều dựa trên những thủ tục pháp lý tương ứng để có thể đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ thủ tục đăng ký hợp nhất và sáp nhập công ty 100% vốn Việt Nam, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (bao gồm các công ty cùng loại hình và khác loại hình hay doanh nghiệp tư nhân, mua doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, ở một số ngành nghề, pháp luật Việt Nam, hoặc cam kết quốc tế của Việt Nam chưa quy định rõ quyền được tham giá thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, nên một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn từ chối cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, hoặc mua cổ phần tại các doanh nghiệp Việt Nam. Khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam” cũng còn những cách hiểu khác nhau, tạo nên sự áp dụng pháp luật không thông nhất giữa các địa phương. Thực tế này đã và đang là một rào cản đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động M&A.

Bên cạnh đó, hoạt động M&A còn bị cản trở bởi cơ chế và thủ tục mở tài khoản vốn đầu tư. Ngân hàng Nhà nước đã có một số văn bản quy định về vấn đề này, nhưng hầu hết các văn bản này đều có sự xung đột và chưa rõ ràng, như quy định về “ tài khoản vốn đầu tư” bắt buộc áp dụng với các hình thức chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông, chủ đầu tư ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam và việc chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, yêu cầu phải mở “tài khoản vốn đầu tư” sẽ làm hạn chế phương thức mua lại bằng cách “trừ nợ” thông qua tái cấu trúc lại doanh nghiệp.

Đối với trường hợp hợp nhất, sáp nhập trong đó công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, thì công ty phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất, sáp nhập, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Cấm các trường hợp hợp nhất, sáp nhập, mà theo đó, công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan (3). Nhưng làm sao doanh nghiệp có thể xác định thị phần của mình trên thị trường liên quan để chủ động thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh nếu thuộc các trường hợp pháp luật quy định? Cơ chế xác định này hiện nay vẫn chưa được luật hóa để doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước thực hiện.

Luật Doanh nghiệp và Nghị định 43/2010/NĐ – CP về đăng ký doanh nghiệp cũng không quy định hồ sơ hợp nhất, sáp nhập công ty phải bao gồm thông báo của doanh nghiệp gửi tới cơ quan quản lý cạnh tranh. Do đó, cơ quan đăng ký doanh nghiệp không thể xác định được việc hợp nhất, sáp nhập của doanh nghiệp có vi phạm các quy định về quản lý cạnh tranh hay không. Ngoài ra, pháp luật cũng không có quy định về cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan đăng ký doanh nghiệp trong việc quản lý các hoạt động hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp. Như vậy,vấn đề này cần phải được khắc phục trong tương lai.

Cơ chế về kế toán và thuế

Các quy định hướng dẫn về chế độ kế toán và thuế đối với các trường hợp M&A hiện nay cũng tương đối cụ thể thông qua các luật về kế toán, quản lý thuế, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp (4). Nghiên cứu về “Pháp luật điều chỉnh sáp nhập và mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam” do các chuyên gia độc lập của Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư thực hiện đã xác định các doanh nghiệp không gặp khó khăn về mặt pháp lý liên quan đến các vấn đề kế toán và thuế khi tiến hành chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.

Chuyển đổi cổ phần, trái phiếu, chứng khoán và tài sản doanh nghiệp trong quá trình sáp nhập và hợp nhất

Việc mua lại doanh nghiệp bằng các tài sản khác không phải là tiền hiện nay cũng đã được các quy định pháp luật công nhận. Các tài sản khác đó có thể là ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, cổ phần, cổ phiếu, khoản nợ, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, các tài sản khác quy định tại điều lệ công ty (5).

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mới đây đã ban hành một thông tư, quy định đồng tiền tham gia góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam là đồng Việt Nam (6). Đồng tiền thanh toán khi mua doanh nghiệp thuộc sở hữu 100% nhà nước cũng chỉ là tiền đồng Việt Nam (7). Nhà đầu tư Việt Nam thì được phép giao dịch bằng ngoại tệ trong các hoạt động đầu tư (8) và được sử dụng ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoài (9). Vấn đề này đã tạo nên sự không thống nhất trong việc quy định hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua lại doanh nghiệp Việt Nam và gây khó khăn cho nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài.

Lao động

Bộ luật Lao động quy định cụ thể. Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp; người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã ký với người lao động. Trường hợp không sử dụng hết dẫn đến việc người lao động phải chấm dứt hợp đồng, thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động (10).

Tuy nhiên, Bộ luật Lao động lại yêu cầu người sử dụng lao động kế tiếp phải có phương án sử dụng lao động trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có. Người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp ít nhất một năm phải chấm dứt hợp đồng lao động với lý do mua lại, sáp nhập sẽ được nhận trợ cấp mất việc làm tương đương với một tháng lương cho mỗi năm làm việc, nhưng ít nhất là hai tháng lương. Đây là một vấn đề mà doanh nghiệp thâu tóm phải tính toán cẩn trọng để giải quyết đúng pháp luật và phù hợp với chi phí đầu tư của doanh nghiệp.

Một bất cập khác là khi phương án sử dụng lao động mà doanh nghiệp bị thâu tóm đưa ra, nhưng công đoàn cơ sở, hoặc cơ quan lao động cấp tỉnh phản đối, thì doanh nghiệp có thể thỏa thuận lại với công đoàn, nhưng chưa rõ phải thỏa thuận ra sao với cơ quan lao động cấp tỉnh. Trường hợp tập thể người lao động lại phản đối kế hoạch sử dụng lao động hoặ không thống nhất quan điểm với công đoàn về phương án sử dụng lao động, thì cũng sẽ ảnh hưởng tới quá trình sáp nhập, hợp nhất của doanh nghiệp.

Cạnh tranh và tập trung kinh tế

Như đã nêu ở trên, việc mua, bán và thâu tóm doanh nghiệp là một trong các hình thức của tập trung kinh tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh (11). Có một số trường hợp mua lại doanh nghiệp không bị coi là tạp trung kinh tế, như “trương hợp doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm bán lại trong thời hạn dài nhất là một năm” (12).

Pháp luật cạnh tranh cũng đưa ra trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, đó là khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trùng kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (13), trừ trường hợp: “một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể, hoặc lâm vào tình trạng phá sản”; hoặc “có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bi=ộ kỹ thuật, công nghệ” (14), hoặc “sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật” (15).

Kết luận

Nhìn chung, pháp luật Việt Nam hiện nay đã ghi nhận quyền được hợp nhất, sáo nhập, mua lại doanh nghiệp và hợp tác xã của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Hoạt động M&A sẽ mang lại những nguồn đầu tư không nhỏ cho Việt Nam và nâng cao khả năng du nhập công nghệ về quản trị doanh nghiệp và sản xuất cho đất nước. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và cơ cấu lại các hoạt động kinh doanh, hoạt động M&A có thể mở rộng thêm cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam và tạo thé liên hoàn vững chắc cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Thông tin mua bán và sát nhập doanh nghiệp

Thông tin mua bán và sát nhập doanh nghiệp

Phải xây dựng các kế hoạch, dự án tiếp theo có hiệu quả là cơ sở phục vụ quá trình thương lượng ban đầu và đánh giá sự thành công của thương vụ sau này.

Thông tin mua bán và sát nhập doanh nghiệp

Thông tin mua bán và sát nhập doanh nghiệp

Góc nhìn của nhà tư vấn

Phòng tư vấn Tài chính doanh nghiệp, Công ty chứng khoáng Bản Việt (VCSC)

Xu hướng M&A vẫn tiếp tục thiên về tái cấu trúc và sẽ có những thương vụ tiềm tàng mang tính chiến lược và đột phát trong lĩnh vực bán lẻ và tiêu dùng. Số lượng các thương vụ M&A giữa các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng do đặc thù nên kinh tế Việt Nam có quy mô không lớn. Bên cạnh đó, chính sách thắt chặt tiền tệ, tín dụng để ưu tiên kiểm soát lạm phát khiến tình hình càng trở nên khó khăn. Do vậy, việc tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, cũng như đối với từng doanh nghiệp (DN), đặc biệt đối với các DN Việt Nam, là điều khó tránh khỏi.

Hiện nay, khi trao đổi, thảo luận về M&A, chúng ta đều nhận được ý kiến rằng, khung pháp lý về hoạt động M&A hiện nay chưa đồng bộ, chưa rõ ràng, là một yếu tố khó khăn gây ảnh hưởng đến thời gian và tiến độ thực hiện M&A. Tuy nhiên, dưới góc độ của nhà tư vấn chuyên nghiệp, những vấn đề trên đều có thể tìm được giải pháp. Trở ngại lớn nhất là do chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện, chứ không phải là vấn đề khung pháp lý. Thực tế cho thấy, có những khó khăn xuất phát từ tầm nhìn chiến lược hạn chế trong quá trình hoạch định thương vụ về mặt pháp lý (xin phép các cơ quan hữu quan, thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục xin cấp giấy phép hoạt động, ưu đãi thuế, chuyển quyền sở hữu, tài sản thế chấp) và sự không dung hòa lợi ích hợp lý giữa các bên tham gia trong quá trình triển khai thương vụ. Những vấn đề này sẽ làm chậm quá trình thực hiện thương vụ và làm cho thương vụ không mang lại kết quả tốt nhất về thời gian và tài chính.

Giá cả là một vấn đề then chốt, nhưng đi kèm với nó là lộ trình thực hiện để đảm bảo M&A được hoàn tất vào thời điểm phù hợp, đảm bảo quyền lợi và lợi ích của các bên trước và sau sát nhập. Điều nên lưu ý giá cả không phải là tất cả, mà là lợi ích đạt được sau khi nghiệp vụ hoàn tất.

Những lợi ích mang lại từ sự cộng hưởng mà các công ty kỳ vọng sau mỗi thương vụ M&A thường bao gồm: đạt được hiệu quả dựa vào quy mô, giảm nhân viên và các chi phí, thực hiện đa dạng hóa và loại trừ rủi ro phi hệ thống, hiện đai hóa công nghệ, tăng cường khả năng thanh khoản, thị phần… Vì vậy, doanh nghiệp nên tự hoàn thiện mình trước khi tham gia M&A để tận dụng tối đa lợi thế và không bị thua thiệt.

Thực tế tại Việt Nam, việc triển khai M&A cho một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp không được thực hiện bài bản. Trạng thái chưa sẵn sàng cho thương vụ M&A gây nhiều khó khăn cho công tác: định giá, thống kê tài sản, xác định giá trị công ty, dẫn đến việc thỏa thuận hoặc sẽ bế tắc hoặc sẽ theo phương thức bán theo một giá trị ước tính chủ quan. Thêm vào đó, người mua kỳ vọng quá nhiều vào thương vụ, trong khi việc nghiên cứu, phân tích điểm mạnh, yếu và có kế sách cho các thương vụ định mua còn hạn chế, hoặc không sẵn sàng về mặt tài chính. Từ đó kết quả cuối cùng thường gặp sau khi sát nhập hợp nhất là, DN phải thu xếp nợ, xóa lỗ, giải quyết lao động dôi dư, xây dựng lại thương hiệu, yếu tố cộng hưởng không phát sinh hoặc không được phát huy.

Ngoài ra, đội ngũ chuyên viên của bên mua và bên bán chưa thật sự hỗ trợ hiệu quả cho những người ra quyết định, do những quan điểm hạn chế về chiến lược, khung pháp lý khi thực hiện M&A. Bởi vậy, các bên thường gặp khó khăn trong quá trình thương lượng và ra quyết định chính thức cuối cùng. Nhiều doanh nghiệp đã vướng vào những ràng bược không đáng có trong giao dịch, do không có hiểu biết đầy đủ về pháp lý khi tiến hành đàm phán.

Và đó là sự khác nhau trong các nghiệp vụ M&A giữa các đối tác nước ngoài với nước ngoài, đối tác Việt Nam với Việt Nam.

Giữa các đối tác nước ngoài với nhau, họ quyết định rồi thực hiện nghiệp vụ M&A. Họ có một định hướng rõ ràng, sau đó mới tìm kiếm mục tiêu. Họ cũng dự kiến và xây dựng phương án điều hành doanh nghiệp bị sát nhập, sau đó mới tiến hành M&A.

Doanh nghiệp Việt Nam thì thực hiện rồi mới quyết định, hay nói cách khác, các đối tác Việt Nam thường tiến hành M&A một cách ngẫu nhiên. Quyết định M&A đối với họ đa số từ nhận thức cho rằng, họ đang mua một tài sản giá rẻ, mà quên rằng, việc tạo ra động năng giữa hai doanh nghiệp mới quan trọng. Do đó, họ thường tiến hành M&A với trạng thái chưa hoàn toàn sẵn sàng và chưa có hoạch định rõ ràng và hiểu hết chi tiết về các thương vụ sẽ triển khai, dẫn tới các bước định ra không như mong muốn hoặc tiến hành M&A với một ý nghĩ chủ quan rằng, các đơn vị tư vấn sẽ thực hiện hết tất cả các vấn đề có liên quan.

Thông thường, khung pháp lý, cấu trúc của một giao dịch M&A chiếm khá nhiều thời gian và ảnh hưởng tới quy trình thực hiện thương vụ, và được xem là yếu tố để hoạch định và triển khai nghiệp vụ, từ đó quyết định sự thành công và hiệu quả ( về thời gian, tài chính) của một thương vụ. Điều đó cũng là thước đo và thể hiện tính chuyên nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn của những đơn vị tư vấn, được xem như là “nhạc trưởng” điều phối tổng thể trước – trong – sau quá trình M&A. Hiện nay, nguồn nhân lực có trình độ trong lĩnh vực này còn thiếu và chưa có sự phối hợp giữa các công ty trong lĩnh vực M&A và các công ty hoạt động tài chính, thu xếp nguồn vốn, chứng khoán. Thông lệ hiện nay chỉ là sự kết hợp của công ty luật, kiểm toán, đơn vị tài chính… và các dịch vụ này được cung cấp riêng rẽ bởi các công ty khác nhau, có thể đẩy chi phí tư vấn lên cao và làm nản lòng các bên tham gia. Ngoài ra, hoạt động tư vấn M&A còn thiếu sự tham gia của ngân hàng, các thiết chế tài chính trong vai trò hỗ trợ vốn vào các thương vụ. Đây là lý do khiến đội ngũ nhân lực hiểu biết trong lĩnh vực M&A còn khá khiêm tốn, hạn chế không nhỏ việc phát triển thị trường.

Đối với một thương vụ M&A, một nhà tư vấn chuyên nghiệp cần hiểu và chỉ ra cho doanh nghiệp nhận thức được các vấn đề về hoạch định, triển khai một cách hiệu quả và tránh được các lỗi dẫn đến thất bại bao gồm:

· Phải thu thập được thông tin, các dữ liệu từ các chuyên gia bên trong, bên ngoài doanh nghiệp, để lựa chọn cách thức thực hiện thích hợp, có tính thuyết phục cao, mạng lại hiệu quả, để từ đó thương lượng ( bên trong và bên ngoài) và thực hiện thành công một thương vụ. Đối với công ty cổ phần đại chúng, nhà tư vấn phải trình bày thuyết phục được các cổ đông ( đặc biệt các cổ đông là các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp) về tính hợp lý và hiệu quả của thương vụ M&A. Đây là vấn đề then chốt để thương vụ M&A được thực hiện thông qua quyết định của ĐHĐCĐ.

· Phải xây dựng một lộ trình thực hiện tổng hợp và chi tiết cho cả một quá trình M&A dựa trên các thông tin về pháp lý và tài chính.

· Phải xây dựng các kế hoạch, dự án tiếp theo có hiệu quả là cơ sở phục vụ quá trình thương lượng ban đầu và đánh giá sự thành công của thương vụ sau này.

· Phải phân công người có thẩm quyền phụ trách đối với các bên có liên quan để các tác vụ trong thương vụ M&A được thực hiện một cách bài bản đúng theo lộ trình thực hiện và đạt được hiệu quả cao nhất về thời gian và tài chính.

Đơn vị tư vấn phải là người dẫn dắt và phối hợp tổ chức với các bên cho cả một quá trình M&A với các bên tham gia, đáp ứng những yêu cầu nói trên, và phải luôn luôn giữ vai trò điều phối công việc để đạt được kết quả như mong muốn.